tinh hinh kinh te thoi ky 1920 1945 53e9762b39649 - Tình hình kinh té thời kỳ 1920 - 1945Kiến trúc 

Tình hình kinh té thời kỳ 1920 – 1945

1. Sự phát triển của tư bản Pháp
Từ năm 1920, người Pháp bắt đầu tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với quy mô lớn hơn nhiều so với thời kỳ trước đó. Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng ở Hà Nội được hoàn thiện và phát triển mạnh. Các chi nhánh ngân hàng Đông Dương, quỹ tín dụng bất động sản Đông Dương, công ty Tài chính Pháp và Thuộc địa ra sức đầu tư vào các lĩnh vực thương mại, xây dựng, giao thông vận tải, công nghệ,…
Bên cạnh đó là sự dịch chuyển tư bàn từ Pháp sang Đông Dương nên ờ Hà Nội dã xuất hiện nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty thương mại lớn như nhà máy dệt Texo, nhà máy xe đạp Mercier, nhà máy in I.D.E.O, nhà máy nước đá Larue, cửa hàng Chaffanjon,… Các công ty đã đúng chân ở đây trước chiến tranh cũng phát triển kinh doanh khiến cho quy mô kinh tế Hà Nội có bước phát triển nhảy vọt so với các thời kỳ trước đó.
2. Sự phát trien hoạt động kinh tế của người Việt
Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam ở Hà Nội đã phát triển với một tốc độ nhanh chóng. Nhiều công thương gia đã tích luỹ vốn liếng để mở mang xây dựng và thành lập nhiều những hàng buôn lớn. Công ty Quảng Hưng Long chuyên buôn bán hàng nội ngoại hoá trước chiến tranh mở thêm các xí nghiệp chế biến xà phòng, làm đồ sắt, dệt chiếu, làm đèn; công ty buôn Hưng Nghiệp hội xã mở thêm xí nghiệp dệt thảm; các xưởng dệt Lưu Khánh Vân, xưởng thêu Trương Đình Long cũng mở rộng sản xuất. Ngoài ra còn xuất hiện nhiều xí nghiệp mới như công ty dệt Nam Trinh, hãng nước mẩm Vạn Vân, nhà máy làm vỏ hộp ích Phong, xưởng cưa Yên Mỹ, xưởng sơn Hiệp ích, nhà máy gạch Hưng Ký, các hăng chế biến chè Tiên Long, Đông Lương, các nhà in Lê Văn Tân, Tân Dân, Thuỵ Ký,… Thời kỳ này cũng đã xuất hiện một số hãng chuyên kinh doanh hàng ngoại nhập như hãng Đan Phong, số lượng thầu khoán xây dựng người Việt cũng phát triển mạnh .

Tình hình kinh té thời kỳ 1920 - 1945 1

3. Tình hình xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế và mở mang đô thị, tình hình xã hội Hà Nội cũng có những biến động lớn. Thống kê dân số hàng năm cho thấy số dân Hà Nội tăng rất nhanh trong thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt quá trình phát triển dân số có bước nhảy vọt sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất .
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng các yếu tố văn hoá phương Tây do người Pháp đưa vào dẫn tới sự thay đổi cấu trúc xã hội – dân cư Hà Nội. Đầu tiên là việc hình thành giai cấp tư sản dân tộc gắn liền với việc mở mang các hoạt động sản xuất công nghiệp và thương nghiệp. Do bị chèn ép bởi giới tư bản nước ngoài, ý thức dân tộc nảy nở trong giới tư sản người Việt ở Hà Nội dẫn tới phong trào thành lập các công ty của người Việt Nam. Họ kêu gọi phát triển các nhà máy sản xuất hàng nội hoá thay cho hàng ngoại nhập, họ đấu tranh đòi thành lập một phòng thương mại riêng cùa người Việt Nam để có được toàn quyền giao dịch với người nước ngoài cũng như đảm đương mọi công việc buôn bán trong nước, họ còn xây dựng được tờ tạp chí Hữu Thanh làm cơ quan ngôn luận của giới tư sản thương nghiệp.
Sự phát triển kinh tế cùng sự phát triển các cơ quan hành chính, kinh tế, văn hoá của chính quyền thực dân cũng khiến tầng lớp tiểu tư sản Hà Nội tăng lên nhanh chóng. Đó là những tiểu chủ, tiểu thương, công chức, nhà giáo và những người hành nghề tự do, họ chiếm phần lớn trong dân số thủ đô lúc bấy giờ nhưng có đời sống bấp bênh, lại bị chi phối bởi lối sống đô thị, đòi hỏi thoả mãn thị hiếu ăn mặc tiêu pha tốn kém mà người dân nơi khác ít chịu ảnh hường. Do vậy ý thức tư tưởng của họ thì gắn liền với giai cấp tư sản, nhưng đời sống thực tế lại gần gũi với giai câp vô sản. Điêu này đã khiến đại đa số những người tiểu tư sản Hà Nội ủng hộ và tham gia các phong trào cách mạng lúc bấy giờ.
Sự phát triển các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp cùng các hãng buôn ở Hà Nội cũng là tiền đề cho sự hình thành và phát triển giai cấp công nhân lao động ở đây. Đa số công nhân lao động có nguồn gốc nông thôn nhập cư vào Hà Nội tìm việc làm. Họ tạo thành một tầng lớp dân cư đô thị mang đặc tính không ổn định và bị phân biệt đổi xử so với các nhóm dân cư đô thị khác. Điều này không chỉ thể hiện ớ điều kiện sổng, điều kiện làm việc mà còn thể hiện trong điều kiện cư trú. Những người công nhân lao động cùng gia đình họ sống tập trung ở các khu “ổ chuột” ven đô, trong các ngôi nhà tạm bợ do chính họ dựng lên bằng đủ loại vật liệu mà họ kiếm được, thiếu thốn những tiện nghi tối thiểu và hoàn toàn không có cơ sở hạ tầng xã hội.
Những khu ở tồi tàn thiếu tiện nghi dành cho người lao động ở ngoại ô tương phản hoàn toàn với những khu phố trung tâm giàu có và dầy đù tiện nghi, đặc biệt là khu phố dành cho người Pháp. Sự phân biệt đối xử và bất công xã hội dẫn đến sự đối kháng của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, đặc biệt là với chính quyền thực dân Pháp dẫn đến đấu tranh giai cấp, đau tranh cách mạng và chính giai cấp công nhân trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh dành độc lập cho nước nhà.

 

 

Related posts

Scroll Up