Kiến trúc 

Tầm quan trọng của lí luận trong kiến trúc Việt Nam

Trong nghệ thuật, có lí luận dẫn đường, định hướng thì có sức mạnh giúp nghệ thuật phát triển nhanh chóng và lành mạnh. kiến trúc Hi Lạp – La Mã được phổ biến khắp châu Âu do hai nguyên nhân: Trước hết vào thế kỉ IV trước Công nguyên, Alexander hoàng đế của Hi Lạp – Macedonia đã làm cuộc viễn chính 22 ngàn dặm xâm chiếm Ba Tư, đi xuyên Ai Cập đến tận Đông Ân Độ và truyền bá văn hoá Hi Lạp khắp nơi, dọn đường cho sự bành trướng của đế quốc La Mã mấy thế kỉ sau. Nguyên nhân thứ hai là vào thế kỉ I trước Công nguyên, kiến trúc sư La Mã Vitruvius đã viết mười cuốn sách về kiến trúc và đầu năm 1570, kiến trúc sư thời kì hậu Phục hưng ở Italia, Andrea Palladio đã đúc kết, bổ sung và phát triển lí luận về kiến trúc cổ điển Hi Lạp – La Mã thành bốn cuốn sách, đó là những giáo huấn vàng ngọc về kiến trúc.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trào lưu Modern phát triển mạnh mẽ ở châu Âu dựa trên những tiến bộ khoa học kĩ thuật về vật liệu xây dựng và kĩ thuật thi công. Trào lưu này có ưu điểm là khước từ ngôn ngữ cổ điển Hàn lâm và mong muốn tìm một ngôn ngữ khác để biểu đạt cái mới của trào lưu mới mẻ này. Nhưng trào lưu Modem không có phương hướng rõ rệt, không có lí luận nghệ thuật mà chỉ dựa vào khả năng của vật liệu và kĩ thuật xây dựng mới. Chủ yếu các kiến trúc sư dựa vào tính chất mềm dẻo của sắt thép có thể uốn thành nhiều hình hoa văn trang trí phong phú và tính chất tạo hình dễ đổ khuôn của vật liệu bêtông để thả sức tạo hình trên các mặt nhà. Một cao điểm của trào lưu này là triển lãm quốc tế nãm 1900 ở Paris. Cuộc thi làm đẹp bộ mặt Paris để đón chào khách quốc tế được các kiến trúc sư Modern hồ hởi tham gia, giải nhất đã được trao cho hai kiến trúc sư Pháp là Hector Guimard và Lavirotte. Hai ông đã sửa sang các mặt nhà của một số công trình trên các đại lộ lớn dẫn đến khu triển lãm. Các balcon được làm lan can bằng sắt uốn thành hình cành lá, các hoa văn và cành lá đắp nổi xen lẫn những tượng khoả thân và phù điêu phức tạp. Có mảng tường hồi được trang trí bằng phù điêu chân dung đại vãn hào Victor Hugo. Thêm vào đó có một thành phần kiến trúc mới do Hector Guimard sáng tạo rất đặc trưng cho trào lưu này là mái lưỡi trai bằng kính lợp trên khung kim loại. Vì không có lí luận xác định phương hướng rõ ràng nên trào lưu Modem dần dần đi tới những trang trí rườm rà, uốn lượn cầu kì và chỉ tác động tới mặt bên ngoài của ngôi nhà, mặt bằng ngôi nhà tức là nội dung công trình không có gì mới. Trào lưu này cuối cùng mất phương hướng, quay trở lại chiết trung.

Tầm quan trọng của lí luận trong kiến trúc Việt Nam 1

Trái lại, chủ nghĩa Công nãng có sức mạnh to lớn. Từ lí luận cơ bản được đúc kết thành công thức do Louis Sullivan phát biểu: “Hình thức đi theo công năng”, đến 5 nguyện tắc về một ngôi nhà do Le Corbusier đúc kết:
1. Nhà trên cột.
2. Mặt bằng tự do.
3. Mặt đứng tự do.
4. Dải cửa sổ nằm ngang.
5. Mái bằng.
Những khẩu hiệu “trang trí và trọng tội” của Adolf Loos và “Less is more” (Nhiều hơn là ít hơn) của Mies van de Rohe đã cụ thể hoá lí luận của trào lưu, vạch rõ con đường phải đi của các kiến trúc sư công năng. Hơn nữa trào lưu kiến trúc hiện đại mà chủ yếu là chủ nghĩa Công năng có tổ chức quốc tế của mình là CIAM đã chỉ đạo sự phát triển kiến trúc hiện đại toàn thế giới qua các hội nghị quốc tế, mỗi hội nghị giải quyết một vấn đề cụ thể, thí dụ Đại hội lần thứ hai ở Frankfurt (Đức) giải quyết vấn đề “nhà ở tối thiểu”. Đại hội lần thứ tư ở Athene đưa ra Hiến chương Athene về quy hoạch đô thị v.v… Với lí luận chặt chẽ và nghiêm ngặt, chủ nghĩa Công năng đã phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Chủ nghĩa Thô mộc (Brutalism) xuất phát tại Anh quốc năm 1953, đã được hai kiến trúc sư Peter và Alison Smithson đưa ra với lí luận về tính chân thực của nghệ thuật kiến trúc và trách nhiệm về đạo lí của kiến trúc sư. Đó là chủ nghĩa Thô mộc Anh quốc, sau này từ đó đã xuất hiện một xu hướng thứ hai với sự nhấn mạnh tính chất thô mộc của vật liệu nhất là bêtông trần, với lí luận về sự tách biệt một cách triệt để các công nãng trên dây chuyền sử dụng v.v… Người ta gọi xu hướng này là chủ nghĩa Thô mộc quốc tế.
Ớ Nhật Bản, trào lưu kiến trúc hiện đại Chuyển hoá luận (Metabolism) đã tập hợp được hầu hết các kiến trúc sư Nhật Bản từ những nãm 1960, sáng tác theo cùng một hướng tạo nên bộ mặt kiến trúc hiện đại nhưng rất Nhật Bản. Sức mạnh của trào lưu này chính là ở lí luận đã định hướng: tạo nên một nền kiến trúc hiện đại phù hợp với một đất nước có những bước tiến như vũ bão về mặt kinh tế, sao cho kiến trúc không bị nhanh chóng lạc hậu so với sự thay đổi mau lẹ của xã hội. Các nhà lí luận của trào lưu này là nhà nghiên cứu nghệ thuật Noboru Kawazoe và kiến trúc sư Noriaki Kurokavva.
Kiến trúc Hậu – hiện đại có lí luận do Charles Jencks công bố trong cuốn “Ngôn ngữ của kiến trúc Hậu – hiện đại” năm 1977. Cuốn này thường là sách gối đầu giường của các kiến trúc sư Hậu – hiện đại trên thế giới và trào lưu này cũng phát triển rầm rộ trong vài thập kỉ.
Trong các ngành nghệ thuật khác cũng vậy. Khi lí luận xuất hiện, càng chặt chẽ, càng có sức thuyết phục thì càng có sức mạnh và nghệ thuật sẽ phát triển càng mau lẹ có định hướng, có tính tư tưởng và cũng có nhiều biến thể tạo nên sự đa dạng. Chủ nghĩa Siêu thực (Surealism) có lí thuyết gia trụ cột là nhà văn André Breton. Năm 1924 ông đưa ra tuyên ngôn Siêu thực lần thứ nhất, đến nãm 1930 ông lại đưa ra tuyên ngôn Siêu thực lần thứ hai.
Chủ nghĩa Siêu thực đã tác động vào thơ, nhất là hội hoạ, sau đó lan sang tiểu thuyết, phim ảnh. Chính nhờ có lí luận mà nó có thể lan truyền và phát triển như vậy.
Lí luận và phê bình thường gắn bó chặt chẽ với nhau. Có lí luận thì mới phê bình được vì phê bình bao giờ cũng phải dựa trên những tiêu chí mà tiêu chí được lập nên trên cơ sở những lí luận đúng đắn đã được xác lập và thừa nhận. Ngược lại, phê bình góp phần củng cố lí luận, bổ sung và khẳng định lí luận.

Related posts