Kiến trúc 

Sự bế tắc của nghệ thuật kiến trúc các nước tư bản (P2)

Cuối những năm 60 do việc quảng cáo quá nhiều, con người luôn luôn bị kích thích đến một mức bão hoà cho nên sự thụ cám của họ bị yếu đi, họ bàng quan với mọi vật chung quanh. Để bắt mọi người phải chú ý đến công trình của mình, nhằm mục đích quáng cáo, người ta dùng cách son lên toàn bộ hay một số bộ phận của công trình những hình vẽ có ti lệ cực lớn, hoặc dùng gương kính lát vào tường và đồ đạc có tác dụng phá hoại thị giác mạnh mẽ, làm người ta không nhận thức được dúng hình dáng thật của mọi vật, có khi tạo nên cảm giác nát vụn hoặc cực kì to lớn. Đó là xu hướng “siêu đồ hoạ”. Ỏ hội chợ quốc tế Osaka (Nhật Bản) nãm 1970, thủ pháp “siêu đồ hoạ” này được sử dụng ở nhiều nơi và hơn nữa người ta còn sử dụng mọi khả năng tổng hợp cao hơn để tác động vào các giác quan của con người như hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, mobili (hình ảnh chuyển động) màu sắc và ngay cả mùi vị nữa. Xu hướng này tiến tới “phản nhân văn” vì có mưu đồ điều khiển trạng thái tâm lí con người bằng cách tạo nên những mỏi trường gây xúc động đặc biệt, thậm chí dùng cả sự kích thích ma tuý để gây ảo ảnh. Những xu hướng không lành mạnh này gắn liền với các hiện tượng tiêu cực của trào lưu “bất bình xã hội”, phong trào “văn hoá thanh niên”… cùng với trào lưu này ra đời một loại công trình gọi là “kiến trúc Zum”. Đó là loại nhà ở cho các thành viên hippy, thường là một khung bán cầu nhỏ bằng kim loại theo kiểu “chỏm cầu trắc địa” của Fuller trên có căng vải bạt hoặc là các vỏ của ôtô hỏng.

Sự bế tắc của nghệ thuật kiến trúc các nước tư bản (P2) 1

Các loại kiến trúc kế’ trên gây căng thẳng và mệt mỏi nên dần dần bị phản đối. Kiến trúc sư MI R. Venturi đưa ra lí luận chống lại xu hướng “tân hoành tráng”, “tân thủ pháp” các loại quảng cáo và “pop-art”, nhưng thực chất đi tìm một sự độc đáo phù hợp với lí luận “hậu modern” của nhà lí luận nghệ thuật Mĩ Philer. Các công trình của Venturi, Moore, Rauch muốn tạo ấn tượng không logic, vô lí, tầm thường để phản đối những công trình cô’ ý đồ sộ, ngạo mạn.
Một xu hướng nữa do Schulits, nhà nghiên cứu nghệ thuật ớ Tây Đức đưa ra và tuyên truyền là “kiến trúc không rõ ràng”. Theo Schulits thì một công 
nhiều về hình thức nữa mà nói nhiều đến nội dung đạo đức của kiến trúc. Các hình thức cố ý lờ đờ, mờ nhạt, không sắc thái, không logic, vô lí và tầm thường một cách cố ý của Venturi trở nên phù hợp như công trình nhà nghỉ mát ở Mĩ năm 1969 của Venturi và Rauch (hình 14). Các hình dáng công trình đã có vẻ ổn định, tĩnh hơn, như một khu sinh viên của một trường đại học ở Anh xây dựng nãm 1969 theo hình các kim tự tháp có dật cấp, nhịp điệu đã trở lại hài hoà hơn, ví dụ cồng trình bệnh viện đa khoa của trường đại học Yale ở Mĩ xây dựng năm 1970 có hệ thông cửa sổ tương đối đều đặn và diễn cảm hơn. Nhu cầu “đạo đức” phản ánh sự bất bình của giới trí thức tiến bộ trong xã hội tư bản về thực tế hỗn loạn và suy thoái về kinh tế và tinh thần của xã hội. Họ đòi hỏi phải chú ý đến tính chất văn hoá và xã hội của kiến trúc, phải nâng cao vai trò của kiến trúc sư trong xã hội bằng cách mở rộng quyền hạn của họ trong nghề nghiệp, về trách nhiệm của kiến trúc sư với bố cục các công trình kiến trúc và môi trường vật chất thành một thể nguyên vẹn. Sự quan tâm đến “đạo đức” thể hiện một khuynh hướng tiến bộ về nhận thức vai trò xã hội của kiến trúc sư không phải là đơn thuần sáng tạo những đài kỉ niệm, những vật tượng trưng mang tính chất thẩm mĩ mà là sáng tạo một môi trường vật chất nguyên vẹn phục vụ cuộc sống của quần chúng nhân dân. Những khao khát lành mạnh về vai trò xã hội của kiến trúc tuy không nhiều nhưng cũng lại ngây thơ và lệch lạc. Chắng hạn ở Mĩ, với ý nghĩ đó người ta đấu tranh bảo vệ hoặc cải thiên từng phần điều kiện ở của dân nghèo thay cho những kiến nghị cải cách toàn bộ. Người ta đấu tranh gìn giữ lại những ngôi nhà ổ chuột ở trung tâm thành phố đế “bảo vệ quyền lợi của dân nghèo”. Do đó đôi khi họ lại bảo vệ và củng cố sự bất công xã hội. Số phận của một trào lưu rực rỡ nhất trong nhũng năm 50 và 60 của phương Tây có đặc biệt quan tâm đến “đạo đức học” là chủ nghĩa “Tân thô mộc” cũng nói lên sự hạn chế của xu hướng “đạo đức học”. Ở đây là ta nói đến Brutalism nguyên gốc ở Anh của Peter và Alison Smithson chứ không phải là Brutalism quốc tế phát triển ngoài nước Anh. Dựa trên nền tảng “đạo đức học” Peter và Alison đã sáng tạo được một vài công trình đặc sắc có lí luận 
nhân đạo nhưng dần dần họ đi đến bế tắc và cuối cùng chỉ còn đọng lại là một số thủ pháp đom thuần mang tính chất thẩm mĩ và hình thức. Cuối cùng, Peter Smithson đã đưa ra một phương án “nhà ở tương lai”, thật sự là một cái máy với các bộ phận được chế tạo tinh vi nhưng không thế lắp lẫn được nhau, đi ngược lại các nguyên tắc điển hình hoá và tiêu chuẩn hoá. Ngôi nhà này là một sự bế tắc điển hình của Brutalism, nó được gọi là một loại “Poparchitecture”.
Trong những năm cuối 60 và đầu 70, ở nhiều hội nghị quốc tế, nhiều kiến trúc sư các nước tư bản đã phát biêu là “vấn đề nghiệp vụ chuyên môn còn có ý nghĩa gì khi mà nó không giải quyết những vấn đề cơ bản cúa cuộc sống xã hội, còn thành quả của hoạt động kiến trúc xây dựng trong các nước tư bản phát triển thì chỉ được một thiểu số dân sử dụng”. Kiến trúc sư nổi tiếng Oscar Niemeyer tác giả thành phố Brasilia, thất vọng và công khai từ bỏ nền “kiến trúc xã hội”. Ông cay đắng thú nhận là đã “không đạt được mục đích của mình” bởi vì công việc của ông “không bao giờ mang lợi ích đến cho các giai cấp túng thiếu, cho những người nghèo”.
Cùng với sự chú ý đến “đạo đức” các kiến trúc sư của thế hệ thứ ba có quan tâm đến môi trường kiến trúc. Khái niệm này thực ra bắt nguồn từ chủ nghĩa cấu trúc, thời gian này đang thịnh hành và xâm nhập vào nhiều ngành khoa học và nghệ thuật. Quan niệm môi trường kiến trúc này lưu ý đến việc dung hoà những công trình mới với môi trường các quần thể kiến trúc cũ. Khác với nguyên tắc phong cách nhất quán trong một quần thế của các thành phố mới hiện đại như Chandigarh và Brasilia, ở đây người ta chấp nhận hơn nữa nhìn nhận sự dung hoà trong một quần thể có nhiều phong cách khác nhau như một phẩm chất thẩm mĩ mới và người ta lao vào khai thác khía cạnh ấy.
Việc quan tâm đến môi trường kiến trúc kéo theo lòng khao khát hoà mình vào thiên nhiên, ơ đây người ta không đi theo xu hướng “kiến trúc hữu cơ” những năm 30 – 40 mà theo con đường sinh thái học. Từ đây dẫn đến việc sùng bái vật liệu thiên nhiên đi đến chỗ “phản hình học”, “phản kĩ thuật” xây bằng thủ công và người ta thất vọng với các tiến bộ kĩ thuật đã sinh ra nhiều vật liệu tổng hợp, nhiều phương pháp xây dựng hàng loạt. Người ta phản đối hình thức đô thị vì nó không tiếp cận được với thiên nhiên. Thế là ra đời những phương án kiến trúc mô phỏng thực vật, động vật, điển hình là các tác phẩm của kiến trúc sư Mĩ Solery.
Mặt khác một số người lại quay trở lại với nền kiến trúc cổ điển để tìm lại sự ổn định hài hoà đã mất. Phong trào phục cổ lại dấy lên. Người ta áp dụng và cải tiến hoặc mô phỏng nhịp điệu của hệ thống “thức” cổ điển Hi Lạp. La Mã. Nãm 1973 kiến trúc sư Kimio, Ykoyama xây dựng bảo tàng Fusinomi ở Nhật Bản, trên lối vào chính có hai cột thức dori với một entablement. Kiến trúc sư Hustown xây dựng tại Miami (Mĩ) một nhà hành chính với hệ thống cột và entablement bốn phía đã cải tiến đơn giản đi… Người ta gọi xu hướng này là “hoài cổ chân thành”.
Tóm lại, từ cuối những năm 50 đến nay, nghệ thuật kiến trúc các nước tư bản biến động nhiều. Các kiến trúc sư tìm tòi theo nhiều hướng, nhưng hầu như xu hướng nào cũng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn rồi lại bế tắc, lại xoay sang hướng khác. Những xu hướng chạy theo thị hiếu, theo lợi ích quảng cáo của chủ nghĩa tư bản thì nhanh chóng tàn lụi với sự biến động suy thoái của nền kinh tế và tư tưởng xã hội, những xu hướng lành mạnh cố gắn mình với thực tiễn xã hội thì hoặc là lệch lạc hoặc là ngây thơ không tưởng và bị thất bại. Nhiều bậc thày trong nghệ thuật kiến trúc phương Tây nhận thức được sự bế tắc này nhưng họ không hiểu rõ được căn nguyên xã hội của nó, nên bi quan với hiện trạng. Tuy vậy có sự phân hoá trong hàng ngũ kiến trúc sư các nước tư bản. Một bộ phận kiến trúc sư tiến bộ trong trào lưu quan tâm đến “đạo đức học” ở các nước tư bản đã dũng cảm tiến theo con đường giải quyết nhà ở hàng loạt cho nhân dân, nghiên cứu đẩy mạnh công nghiệp hoá xây dựng, quan tâm đến kinh tế xã hội. Họ đang trở lại con đường của những bậc thày của chủ nghĩa công năng đã đi trong những năm 20, gắn mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân lao động cho tiến bộ xã hội, cho sự phát triển khoa học kĩ thuật và cho cuộc sống.

Related posts