Kiến trúc 

Những chặng đường phát triển nghệ thuật kiến trúc việt nam 50 năm qua (P2)

Thời kì khung bêtông cốt thép liền khối
Lắp ghép tấm lớn cũng như kết cấu gạch đều hạn chế kháu độ, các không gian kiến trúc bị cứng, khó thay đổi theo sự biến động của nhu cầu sử dụng nên kết cấu khung bêtông cốt thép dẩn dần được áp dụng rộng rãi. Với khung bêtông cốt thép, các khẩu độ được mớ rộng nhiều và các không gian nội thất có thể thay đổi rất sinh động theo nhu cầu sử dụng. Do đó từ giữa những năm 80 trớ đi và những năm tiếp theo phù hợp với thời kì mớ cửa, kết cấu khung bêtông cốt thép cùng những vật liệu xây dựng đa dạng và phong phú khác đã tạo cho kiến trúc một sự khới sắc trong cả nước. Khắp nơi mọc lên những công trình lớn với kết cấu khung bêtông cốt thép dúc tại chỗ, tường bằng nhiều loại vật liệu khác nhau rất đa dạng từ gạch, bêtông nhẹ đến kim loại, chất dẻo và nhất là kính có khung thép không gỉ. Sở dĩ gọi là khởi sắc vì qua một thời kì xây dựng ít và đơn điệu với một kiểu nhà ở lắp ghép tấm lớn, chỉ có lác đác một số công trình công cộng và công nghiệp, nay xây dựng ổ ạt khắp nơi, hình thức đa dạng, màu sắc phong phú. Trong thời kì nàv hình thức kiến trúc có nhiều biến động. Thoạt đầu là những công trình làm theo xu hướng chứ nghĩa công năng với các hộp chữ nhật trong đó có một số công trình khá tốt như khách sạn Thái Bình của KTS. Huỳnh Lẫm, các khách sạn Đồ Sơn, Bãi Cháy của KTS. Trần Gia Khiêm, một sô’ biệt thự ở bãi biển Pagodon ở Đồ Sơn, Cung Thiếu nhi Hà Nội của KTS. Lê Văn Lân, khách sạn Thái Nguyên của KTS. Nguyễn Trực Luyện v.v… và tiếp đó từ khi “mớ cửa” các ánh hướng kiến trúc ùa vào ồ ạt, người ta xây dựng theo đủ loại phong cách, nhưng phổ biến nhất là sử dụng đường cong. Ta thấy đường cong ở mặt bằng, ở mặt đứng công trình, ở những tổng thể đến những chi tiết nhỏ, đó cũng là một tác động của bêtông cốt thép đã được sử dụng rộng rãi.

Những chặng đường phát triển nghệ thuật kiến trúc việt nam 50 năm qua (P2) 1

Trong quá trình mở cửa và hội nhập với thế giới, trước hết là với khu vực, ớ nhiều thành phố lớn của nước ta đã mọc lên một số công trình do nước ngoài thiết kế như những khách sạn, các trung tâm dịch vụ, trụ sở các hãng, các ngân hàng của Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan, v.v… Do đó kiến trúc nước ta cũng chịu ảnh hưởng của những công trình này. Nhưng ảnh hưởng này ít có tác dụng xấu vì những công trình lớn thường được thiết kế khá nghiêm túc, không có những cái lố lăng. Tuy nhiên, về mặt phong cách thì hoặc là kiểu dáng mang tính chất quốc tế với các khối hộp vuông vắn, hoặc mang phong cách dân tộc nước họ, hay là mang những nét Hậu hiện đại phương Tây.

Những chặng đường phát triển nghệ thuật kiến trúc việt nam 50 năm qua (P2) 1

Khách sạn Westlake – Meritus, Hà Nội, tính chất dân tộc nước bạn

Qua tất cả năm thời kì phát triển, ta nhận thấy về phương diện phong cách kiến trúc thì có hai lần có hiện tượng viện đến kiến trúc cổ điển phương Tây là “thời kì gạch” và “thời kì khung bètông cốt thép liền khối”. Ở thời kì gạch, phong cách cổ điển phương Tây được áp dụng chủ yếu ở các công trình công cộng của Nhà nước và áp dụng theo tinh thần bố cục của hệ thống cổ điển như có bệ cột, có tầng bệ nhà, có mũ cột, sênô và nhịp điệu phân vị dọc. Yếu tố cổ điển thể hiện ở tính chất nghiêm túc, nhưng sơ lược. Ở “thời kì khung bêtông cốt thép liền khối” hiện nay, phong cách cổ điển phương Tây được sử dụng trong cả công trình lớn của Nhà nước, tư nhân và liên doanh, lẫn nhà ở của nhân dân đô thị. Việc áp dụng hệ thống cổ điển thấy ở cả nhịp 
điệu lẫn chi tiết như đầu cột Korinth, Ioni, Dori, các mái hồi tam giác, v.v… Các yếu tố cổ điển phương Tây lẫn kiến trúc địa phương của Pháp được sử dụng bừa bãi lộn xộn, vụn vặt trong nhiều công trình xây dụng mà chủ yếu là nhà ở của dân.

Cũng về phương diện phong cách thì xuyên suốt nãm thời kì luôn luôn có một hướng tìm tòi thể hiện tính chất dân tộc trong kiến trúc. Xu hướng này hoặc biểu hiện ở kết cấu hoặc ở hình dáng bên ngoài, hoặc 0 hoạ tiết. Trong “thời kì tre nứa” việc xây dựng bằng loại vật liệu này dĩ nhiên áp dụng kết cấu truyền thống dân gian với cả hệ thống kết cấu chịu lực, hình thức kiến trúc, trang trí hoạ tiết và cách thức thi công xây dựng. Hiển nhiên ta được những công trình kiến trúc mang đậm tính chất dân tộc mà lại sáng sủa, hiện đại, đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại. Trong “thời kì gỗ”,những biểu hiện tính chất dân tộc thấy rõ nhất ớ lễ đài Ba Đình của KTS. Nguyễn Văn Ninh dùng trong buổi lễ chào mừng Đảng và Chính phủ về Thủ đô nãm 1955. Các cổng chào gỗ thường làm theo kiểu tam quan. Ớ “thời kì gạch” tính chất dân tộc thường biểu hiện ở các con sơn đỡ mái ngói, ở chi tiết trang trí các hoa văn cửa chiếu sáng, song cửa, hàng rào. “Thời kì bêtông lắp ghép” có ít biểu hiện tính chất dân tộc do đặc thù của kết cấu tấm lắp ghép và cách xây dựng. Tuy nhiên, tính chất dân tộc vẫn được biếu hiện ớ sự đáp ứng nhu cầu sử dụng của người Việt Nam trong điểu kiện cụ thể của không gian và thời gian, chẳng hạn như hướng nhà đón gió mát, cách bố trí thông gió cho căn hộ, lối dắt xe đạp lên cầu thang… Đến “thời kì khung bêtông cốt thép liền khối” thì sự tìm tòi biểu hiện tính chất dân tộc đa dạng
hơn nhiều và cũng chủ yếu ở hình thức. Một biểu hiện phổ biên trở thành’ một thủ pháp thời thượng là “trò chơi” biểu diễn hệ thống mái ngói. Các phương án dùng mái ngói rất phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc. Có một số tìm tòi lí thú nhưng cũng không hiếm những biểu hiện lạm dụng, cầu kì, vụn vặt. Một số tác giả có nghiên cứu cách điệu hệ thống kết cấu cột dầm gỗ truyền thống với mái đao, xà kẻ, bẩy, con tiện… chuyển sang bằng vật liệu bêtông cốt thép. Cách nghiên cứu này đáng khuyến khích đưa đến cho ta hình ảnh quen thuộc của hệ thống kết cấu truyền thống dưới một dạng khái quát và hiện đại. Nhưng dù sao tất cả những cái đó cũng vẫn chỉ là hình thức bên ngoài. Đặc tính cơ bản của tác phẩm kiến trúc là không gian và tính chất dân tộc trong kiến trúc còn biếu hiện ớ nhiều yếu tô khác như hướng nhà, hướng gió, quan hệ giữa công trình kiến trúc và môi trường xung quanh, phong tục tập quán địa phương và cách thức sinh hoạt của người Việt Nam chúng ta, những vấn đề về tín ngưỡng, tâm linh v.v…
Giai đoạn tiếp theo của kiến trúc việt nam sẽ phải giải quyết vấn đề thoả mãn nhu cầu ờ, nghỉ ngơi, sinh hoạt và làm việc của con người Việt Nam trong một xã hội văn minh, hiện đại. Những hình thức kiến trúc của ông cha để lại là di sản cực kì quý báu giúp cho chúng ta vươn lên, nhưng không hề gò bó chúng ta sáng tạo. Giả sử ông cha ta từ nhiều thế ki trước đã có trong tay những vật liệu và kĩ thuật xây dựng như chúng ta hiện nay chắc chắn các cụ cũng sáng tạo nên những công trình kiến trúc thật đặc sắc không hề giống những thứ đã và đang làm trong thời đó, nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội lúc bấy giờ và những công trình đó lại trở thành di sản truyền thống để lại cho chúng ta ngày nay học tập. Vậy thì chúng ta hoàn toàn có quyền sáng tạo một nềrt kiến trúc Việt Nam hiện đại mới dựa trên truyền thống đã có và học tập tinh hoa của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu của người Việt Nam trong thời hiện đại

Related posts