mot so cong trinh kien truc xay dung trong nhung nam 60 53e97508d4926 - Một số công trình kiên trúc xây dựng trong những năm 60Kiến trúc 

Một số công trình kiên trúc xây dựng trong những năm 60

kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh có các tác phẩm tiêu biểu là: Lễ đài Ba Đình, Nhà sàn của Bác trong Phủ Chủ tịch; kiến trúc sư Đoàn Văn Minh có Trường đại học Thuỷ lợi, Nhà làm việc của Tổng cục Thống kê; kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp có Bảo tàng Việt Bắc; kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm với sự cộng tác của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện có Hội trường Ba Đình; kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân có Hội trường Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Trụ sở Bộ Xây dựng; kiến trúc sư Đoàn Ngọ có Bệnh viện Mắt Hà Nội, Trường Dàn tộc trung ương; kiến trúc sư Hoàng Linh có Khu văn công quân đội ở Mai Dịch; kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn có Trụ sở liên cơ Vân Hồ, v.v… Trên đây chỉ kể vài công trình tiêu biểu nhất. Tuy nhiên với từng ấy công trình ta có thể thấy được những nét chung, đánh dấu cả một giai đoạn của thập niên 60.
Hầu hết các công trình nêu trên dùng hệ kết cấu tường gạch chịu lực. Chính ở đây chúng ta thấy rất rõ là phương án kết cấu ảnh hưởng lớn đến hình thức kiến trúc: nét chung nhất ở tất cả những công trình này là hình ảnh của ngôi nhà bằng gạch. Trừ công trình Nhà sàn của Bác bằng kết cấu gỗ, tất cả các công trình kể trên đều được thiết kế theo tinh thần của chủ nghĩa Cổ điển phương Tây với ngôn ngữ chính của kiến trúc là thức Hi Lạp – La Mã đã được cải biên. Đây cũng là một điều hợp quy luật. Thông thường, khi một chế độ mới xuất hiện, trước khi đủ thời gian tìm được cho mình một nét riêng trong nghệ thuật kiến trúc, thì thường mượn một hình thức nào có sẵn đã được thừa nhận là đẹp, để cho những công trình đầu tiên của mình không “gây sự cố”.

Một số công trình kiên trúc xây dựng trong những năm 60 1

Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc với các tác giả Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đàm Trung Lãng và Phạm Đình Biều có thể coi là quần thể công trình đầu tiên có quy mô đồ sộ và tầm quan trọng lớn trong thời gian sau chiến thắng giặc Pháp. Ở đây lần đầu tiên chúng ta dùng phương pháp lắp ghép các panen, sàn, mái. Trong trường này, ngôi nhà hội trường của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân đã trở thành một mẫu được ưa chuộng. Đó là một ngôi nhà có mặt bằng hình chữ T, ở giữa là hội trường, mặt đứng có 6 cột cao suốt 2 tầng nhà (kiểu đại thức) chia mật đứng thành 5 khoảng, phần entablement và corniche rất đơn giản. Hai cánh là nhà 2 tầng dùng làm thư viện, phòng khách v.v…
Các công trình thời kì này rất được chú ý về mặt ti lệ hình khối, nhiều công trình đạt được tỉ lệ hài hoà đúng mức giữa các khối như Lễ đài Ba Đình (ở vị trí Lãng Bác ngày nay), Học viện Thuỷ lợi, Bảo tàng Việt Bắc… Ớ Tổng cục Thống kê, giải pháp làm mặt bằng cong vào tạo điều kiện biểu lộ được vẻ đẹp của công trình.
Tính chất dân tộc ở đây còn muốn thể hiện bằng ba cửa cuốn tò vò. Ở Bảo tàng Việt Bắc, tác giả đã nghiên cứu các môtíp trang trí thổ cẩm của các dân tộc ít người ở Việt Bắc để làm các hoa văn trên trần, trên cửa công trình… Tại Hội trường Ba Đình các tác giả đã sử dụng vật liệu gạch đỏ ở mảng tường chiếu sáng, vật liệu đá ốp, sáng tạo kiểu ô văng ở đầu hồi có dạng mái hai độ dốc để biểu thị tính chất dân tộc.
Nhưng những công trình trên cũng không tránh khỏi một số nhược điểm mang tính chất lịch sử. Trước hết các tác giả muốn thực hiện phương châm “nội dung xã hội chủ nghĩa, hình thức dân tộc”. Ta không đi sâu vào bố cục mặt bằng từng công trình nhưng về nội dung coi như đáp ứng được yêu cầu sử dụng, về hình thức dân tộc thì còn nhiều vấn đề. Hình thức chung bên ngoài là chủ nghĩa Tân cổ điển phương Tây, các cố gắng về tính chất dân tộc mới ở mức chi tiết trang trí, tuy có cố gắng nhưng nhiều khi không đạt. Chẳng hạn như ở Bảo tàng Việt Bắc, các đai thép treo trần cũng được gắn một bông hoa bằng sắt đế che dấu công năng của đai, một chi tiết dân tộc không đúng chỗ gây sự giả tạo. Ớ Hội trường Ba Đình, ôvãng hình hai mái dốc ớ hồi nhà (thường gọi là “hai cái tai”) gợi hình ảnh cái fronton của kiến trúc Hi Lạp nhiều hơn là hình ảnh quen thuộc của kiến trúc dân tộc. Ở khu Văn công quân đội cố gắng thể hiện tính chất dân tộc rất rõ nét ở các mái ngói nhưng lại thiên về phục cổ hơn là mang tính chất dân tộc hiện đại. Vả lại với hlnh thức Tân cổ điển mà càng đưa nhiều môtíp trang trí dàn tộc vào thì càng mang màu sắc chiết trung. Một kiến trúc sư lão thành đã tự nhận tác phẩm của mình là một dạng kiến trúc chiết trung. Một nhược điểm khá rõ nữa là kiểu hội trường Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tuy là một công trình khá tốt, nhưng khi nó được người ta say mê mà tái hiện lại ở khắp nơi với đủ hai cánh hoặc có cánh chữ T, thì nảy sinh vấn đề đơn điệu trong nghệ thuật, dường như thời kì này chỉ có một kiểu hội trường ấy mà thôi.
Tuy nhiên phần ưu điểm của các công trình nói trên là cơ bản. Những công trình đó đã đáp ứng được những nhu cầu quan trọng nhất của đất nước mới được giải phóng khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp. Lần đầu tiên chúng ta được xây dựng trong hoà bình những công trình của chế độ mới. Chính trong hoàn cảnh đó, những công trình thời kì này đã phản ánh khí thế đi lên của chế độ mới, của người chiến thắng qua hình tượng kiến trúc đàng hoàng, trang trọng, ít sa vào tỉa tót các hoa văn trang trí mà chú trọng nhiều đến tỉ lệ cân xứng hài hoà để tạo nên vẻ đứng đắn, nghiêm trang, giản dị và mạnh mẽ. Thế hệ kiến trúc sư đào tạo trước Cách mạng tháng Tám đã để lại những công trình đánh dấu một giai đoạn nhất định trong lịch sử kiến trúc Việt Nam, giai đoạn thập kỉ 60 của thế kỉ này.

Related posts

Scroll Up