Kiến trúc nhà công cộng theo phong cách kiến trúc Đông Dương (P1)

• Toà nhà trung tâm Đại học Đông Dương:
Tác phẩm đầu tiên theo phong cách kiến trúc Đông Dương được xây dựng ở Hà Nội do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế năm 1924 là Toà nhà chính cua khu Đại học Đông Dương đã hình thành trước đó. Tọa lạc tại một vị trí án ngữ một đại lộ lớn lúc bấy giờ – Boulevard Carreau (phố Lý Thường Kiệt ngày nay), xế phía trước lại có một vườn hoa nhỏ, công trình đã tạo ra một điểm nhấn đô thị nối bật. 
Theo thiết kế ban đầu thì đây là một công trình mang phong cách Tân cổ điển với cấu trúc hình khối kiến trúc đăng đối hoàn toàn, mặt bằng không gian theo kiểu chính thống, nhấn mạnh khối sảnh trung tâm, hai phía là giảng đường lớn và thư viện được bố trí trên hai tầng nhà. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng, Emest Hébrard đã thay đối hầu như hoàn toàn hình thức mặt đứng công trình bàng cách đưa vào khá nhiều thành phần kiến trúc Á Đông
Điểm nhấn cho khối trung tâm là bộ mái ngói nhiều lớp theo hình thức bát giác, giữa các lớp mải là các cửa nhỏ trang trí hoa văn bên cạnh hàng côngxon đỡ mái theo kiêu Trung Hoa cổ. Bộ mái ngói còn được sử dụng như một hình thức kết thúc phưcmg dứng ờ hai cánh nhà, ở tiền sảnh phía sau nhà, các cửa sổ cũng được che bởi các ô văng chéo dán ngói. Toà nhà còn dược trang trí bởi rất nhiều hoa văn chữ “triện” được biến tấu theo các hình thức khác nhau.
Nhắc tới Đại học Đông Dương thì chúng ta không thể bỏ qua phần nội thất của công trình. Nếu mặt ngoài toà nhà mang dáng vẻ Á Đông thì phần nội thất lại chú yếu theo tinh thần kinh viện Châu Âu với chính sảnh được phủ bởi một bộ vòm hai lóp với hàng cột, các họa tiết trang trí kiểu Tân cổ điển. Đặc biệt là trong giảng đường chính có bức tranh tường lớn nhất Việt Nam do họa sĩ Victor Tardieu thực hiện, mô tả cuộc sống của người Hà Nội đầu thế kỷ 20 với sự hiện diện của 200 nhân vật đại diện cho xã hội thời bẩy giờ (hình 4.7b).
Công trình Đại học Đống Đường có thể được coi là thử nghiệm ‘dầu tiên của Ernest Hébrard theo phong cách kết hợp nên còn thiếu sự ăn nhập giữa nội – ngoại thất công trình. Tuy nhiên với hình khối được tô chức chuân mực theo tinh thần cô điển kết hợp với các hình thức trang trí mặt đứng theo tinh thần phương Đông, toà nhà chính Đại học Đông Dương có thể coi là công trình tiên phong của trường phái kiến trúc Đông Dương, một sự kết hợp thành công bước đầu giữa kiến trúc nói riêng và văn hoá phương Đông và phương Tây nói chung ở Mà Nội.
• Bảo tàng Louis Finot:
Bảo tàng Louis Finot (Bảo tàng lịch sử ngày nay) thuộc Trường Viên Đông Bác cô Pháp (École Franẹaise d’Extrime Orient), do các kiến trúc sư E. Hébrard và c. Batteur thiết kế năm 1925, có thể được coi là một đại diện lớn của phong cách Kiến trúc Đông Dương, một phong cách nỗ lực kết hợp các giá trị của nền kiến trúc Pháp với các giá trị kiến trúc bản địa. Công trình được khởi công năm 1926 và hoàn thành năm 1931 trên khu đất phía sau Nhà hát lớn, chạy dọc theo bờ đê sông Elồng và là điểm kết thúc của tuyến phố Quai Guillemoto (phố Trần Quang Khải), một vị trí có thề tạo ra điểm nhấn kiến trúc cho tuyến đường bờ đê.
Mặt bàng bảo tàng được kiến tạo theo yêu cầu của không gian kiến trúc trưnu bày nên được cấu tạo dựa trên những không gian khấu độ lớn. Không gian chính sảnh hình bát giác có kích thước mỗi cạnh lớn lên den 1 lm, không gian trưng bày chính nằm ngay sau đại sảnh có hình chữ nhật kéo dài và được tổ chức theo hình thức xuyên phòng có sự chuyến tiếp được tổ chức khéo léo. Ngoài ra còn có các không gian trưng bày chuyên đề nằm ớ hai phía của đại sánh tạo thành một tồng thể trưng bày khoáng đạt (hình 4.8c).
Phía dưới tầng trưng bày là một tầng trệt cao 2,5m nơi tổ chức các phòng phục chế, lưu trữ, kho và bộ phận hành chính, tầng này cũng mang ý nghĩa cua một tầng chế. lưu trữ, kho và bộ phận hành chính, tầng này cũng mang ý nghĩa của một tầng cách ẩm làm cho không gian trưng bày phía trên luôn khô ráo trong điều kiện độ ẩm cao ở Hà Nội.
Hình khối mặt đứng công trinh được nhấn mạnh bởi hệ thống mái che khối sảnh hình bát giác nhô cao phía trên công trình. Đây là một hệ ba lớp mái bao gồm mái trên có độ dốc lớn và được ngăn cách với các mái dưới bởi hệ thống cửa lấy sáng và một hệ côngxon liên tục, phía dưới là hai lớp mái có độ dốc nhỏ hơn. Mặc dù hình khối theo kiểu bát giác mang nhiều nét của kiến trúc Trung Hoa cố, nhưng nhìn toàn bộ khối mái này lại gợi cho chúng ta hình ảnh cúa tháp chuông chùa Keo, Thái Bình do cách xử lý khéo léo của các kiến trúc sư (tác giả) theo kiểu hệ mái ba lớp với các côngxon liên tục chồng lên nhau. Bảo tàng là một công trình văn hoá lớn lúc bấy giờ nên khối sảnh bát giác mang nhiều tính hỉnh thức của chủ nghĩa Biểu hiện là điều dề hiểu và tạo được ấn tượng tot!
Toàn bộ hệ mái cho các khu trưng bày được cấu tạo theo kiểu mái chồng diêm hai lớp thường thấy ở các công trình tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam truyền thống. Khe hờ giữa hai lớp mái đóng vai trò thoát gió trong hệ thống thông gió tự nhiên của công trình. 
Lớp mái phía dưới đua rộng ra khỏi hệ thống tường ngoài, có tác dụng che nắng và chống mưa hắt cho hệ thống cửa mờ rộng phía dưới, đồng thời tạo bóng đổ trên mặt đứng làm tăng vẻ duyên dáng cho toà nhà. Phần mái đua được đỡ bởi hàng cột kép kết hợp với hệ côngxon cách điệu cùng các họa tiết trên lan can tạo ra một dáng vẻ Á Đông rõ rệt. Các giải pháp thông gió tự nhiên được các tác giả lưu ý dặc biệt bằng cách tổ chức một hệ thống cửa sổ mở rộng trên các tầng nhà, kết hợp với các cửa thoát gió trên mái 
khiến cho khối không khí trong nhà luôn được lưu thông theo cả phương ngang lẫn phương đứng.
Không gian sảnh và các khu trưng bày cũng luôn tràn ngập ánh sáng tự nhiên nhờ các cửa sổ rộng kết hợp với các cửa kính hãm trên cao, đặc biệt là các cửa kính bát giác trên khối sảnh vừa mang ý nghĩa trang trí vừa đưa vào ánh sáng rực rỡ cho khu đại sảnh.
Các họa tiết trang trí nội – ngoại thất công trình đều xuất phát từ các motif Á Đông cổ truyền nhưng đirợc cách điệu và biến hoá ở các vị trí khác nhau, tạo ra sự đa dạng trong phương cách trang trí nhưng vẫn hoà nhập với hình thái kiến trúc chung.
Cây xanh, sân vườn cũng được các tác giả lưu ý một cách thấu đáo. Hệ thống cây xanh từ vườn hoa phía trước được kéo vào sâu trong sân bảo tàng làm cho công trình dường như mọc lên từ khối cây xanh nhiệt đới.
Với sir kết hợp nhuần nhuyễn Á – Âu trong cấu trúc mặt bàng không gian, trong tổ chức hình khối kiến trúc và mặt đứng, cùng sự hài hoà giữa công trình với cảnh quan thiên nhiên, Bảo tàng Louis Finot xứng dáng được coi là một trong những đại diện lớn nhất của phong cách Kiến trúc Đông Dương không chỉ ở Hà Nội mà còn trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
• Sở Tài chính:
Sở Tài chính (Direction des Finances) do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế năm 1924 và dược khởi công xây dựng năm 1925, hoàn thành năm 1928. Nằm trong bối cảnh khu vực trung tâm hành chính – chính trị của Hà Nội theo phương án quy hoạch của Ernest Hébrard, toà nhà là điểm kết thúc trục đường Vallenhoven (phố Chu Văn An) đồng thời nằm giữa trục tam giác cân tạo bởi các tuyến phố Puginier (phố Điện Biên Phủ), Ollivier (pho Tôn Thất Đàm) và một đại lộ lớn chưa hình thành nằm ở vị trí dường Bắc Sơn hiện nay, đây cũng là công trình duy nhất cùa Ernest Hébrard dược xây dựng theo quy hoạch này.
Toà nhà có mặt bằng hỉnh chữ H cấu trúc đăng đối hoàn toàn qua trục trung tâm. Cánh nhà chính hướng ra phố Vallenhoven gồm 4 tầng: tầng trệt cao 2,65m là nơi hố trí các phòng phục vụ, kho, …ha tầng trên là nơi bổ trí các phòng làm việc theo kiểu hành lang giữa. Cánh nhà phía sau ngắn hơn và chỉ có 3 tầng được bố trí các phòng lưu trừ tài liệu theo kiểu không gian xuyên phòng. Nối giữa chúng là khối hành lang cầu và các cầu thang.
Mặc dù về mặt tổ chức mặt bàng không gian chức năng hoàn toàn theo phong cách kinh điển của các toà nhà hành chính ở Pháp lúc bấy giờ, nhưng về mặt xử lý kiến trúc, tác giả đă khéo léo kết hợp với các thành phần và chi tiết kiến trúc Phương Đông tạo ra nét bay bổng, hoà nhập với cảnh quan xung quanh.
Diều đầu tiên đáng lưu ý ở công trình này là việc xử lý bộ mái ngói với rất nhiều lóp mái, rất nhiều hình thức mái dược tổ hợp một cách nhuần nhuyễn. Trên mặt chính chúng ta có thê thây bộ mái chiếm tỷ lệ khá lớn. Khối trung tâm được nhấn mạnh bởi một lâu mái có cột đỡ nhô hăn lên phía trên công trình, phía dưới là lớp mái phẳng nhô ra phía trước kết hợp với lớp mái che cửa sổ tầng 2 và mái tiền sảnh. Ngoài điểm nhấn ở khôi trung tâm thì bộ mái còn lan toả trên toàn bộ khối nhà với rất nhiều hình thức phong phú: mải bát giác 2 lớp trên các tháp, hồi múi tại các điểm kết thúc công trình, mái dạng băng phân vị giữa tầng 2 và tầng 3, mái tam giác che cửa mái và các mái nhỏ che cửa so, ống khỏi. Hệ mái của công trình không chỉ mang tính trang trí mà có ý nghĩa thực sự về khả năng che nắng, cách nhiệt, chống chói và chống mưa hắt. Nếu quan sát kỹ sẽ thấy phía Đông và Tây của toà nhà đều có các hàng hiên nhỏ có mái che chống bức xạ mặt trời gay gắt vào buổi sáng và buổi chiều.
Khả năng thông gió và lấy sáng tự nhiên của công trình rất tốt nhờ lượng mở cứa lớn trên các mặt đứng. Các lỗ thoáng được đặt phía trên sàn và sát trần nhà đảm bảo khả năng thoát nhiệt. Toàn bộ cửa sổ đều được bố trí giữa hai lớp cửa kính trong chóp ngoài đảm bảo thông gió, lấy sáng tốt mà vẫn chống được ánh nắng chói chang về mùa hè và cái lạnh buốt giá về mùa đông ở Hà Nội.

Related posts

Scroll Up