Kiến trúc 

Kết hợp cải tạo, xây dựng thành phố với việc bảo vệ các di sản kiến trúc có giá trị truyền thống của thủ đô

Hà Nội, thủ đô yêu quý của chúng ta mang một truyền thống lịch sử – văn hoá sâu sắc, tập trung nhiều tinh hoa cua dân tộc Việt Nam qua nhiều thời đại từ thế kỉ XI đến nay. Có biết bao nhiêu biến cố lịch sử đã diễn ra ở Hà Nội. Hà Nội đã chứng kiến bao cuộc thãng trầm và mỗi một công trình còn lại đến ngày nay là một chứng tích in dấu vết của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, là kỉ niệm của những sự kiện lịch sử, là tác phẩm chứng minh một nền vãn hoá rực rỡ, chứng minh truyền thống dân tộc trong các cuộc đấu tranh gìn giữ đất nước, xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống, xây dụng Thủ đô.
Những di tích ở Hà Nội có rất nhiều. Riêng các di tích do trường Viễn Đông Bác cổ đề nghị Toàn quyền Pháp xếp hạng ở Hà Nội đã là 33, trong đó có 21 ở nội thành. Ngày nay con số đó còn được bổ sung nhiều hơn nữa do những di tích mới được phát hiện, thêm những di tích thời kì thuộc Pháp và thời gian từ 1945 trở lại đây.
Phải chãng chúng ta sẽ giữ lại để bảo vệ tất cả những di tích ấy ? Theo chúng tôi thì không phải di tích nào cũng giữ lại, mặt khác thì thà giữ lại nhầm một công trình còn hơn lỡ phá nhầm một công trình, một di tích quý, vì đã phá đi không làm lại được nữa. Chúng ta cần phải thống nhất rằng cần gìn giữ những di tích có giá trị, tu bổ chúng, khai thác chúng, phục vụ cho cuộc sống mới của nhân dân, phát huy tác dụng của chúng trong công cuộc xây dựng thủ đô XHCN của chúng ta.
Các giá trị của di tích kiến trúc cần được xem theo 4 tiêu chuẩn sau:
1. Giá trị thời gian
– Niên đại lâu nhất của thể loại di tích kiến trúc
– Mốc thời gian có ý nghĩa như khởi đầu hoặc kết thúc một giai đoạn lịch sử.
2. Giá trị điển hình của loại hình kiến trúc: điển hình của một ngôi chùa, một nhà thờ đạo Giatô, một nhà thờ họ…
3. Giá trị độc đáo của công trình trong một loại hình kiến trúc nhất định.
4. Giá trị về mốc văn hoá: công trình gắn với một truyền thuyết, một danh nhân hoặc chứng minh sự giao lưu giữa các miền, các dân tộc, các quốc gia…
Các di tích cần phải được phân loại theo 4 loại hình để xem xét như:
1. Di tích riêng lẻ: một ngôi đình, một ngôi nhà…
2. Di tích là một quần thê như một khu phố, một nhóm nhà, một xóm…
3. Di tích là kiến trúc phong cảnh
4. Di tích là vật thể kiến trúc mang ý nghĩa kỉ niệm.
Các di tích này sau khi phân loại cần phải phân cấp đê có biện pháp bảo vệ, tôn tạo, sử dụng thích hợp. Nên chia thành 4 cấp di tích:
Cấp I: Di tích đặc biệt quý giá, có giá trị cao vé nhiều mặt, mang ý nghĩa toàn quốc.
Cấp II: Di tích quý có giá trị về một mặt nào đó hoặc có ý nghĩa địa phương.
Cấp III: Di tích có giá trị trung bình.
Cấp IV: Di tích có giá trị thấp.
Các biện pháp xử lí đối với di tích cũng tuỳ thuộc các cấp nói trên như:
– Đối với cấp I: Di tích thuộc cấp này nhất thiết phải được liệt hạng, được Nhà nước hoàn toàn quản lí (nếu là bất động sản của dân thì Nhà nước sẽ mua lại để quản lí). Di tích phải được tu bổ lại theo đúng nguyên mẫu và có kế hoạch chăm sóc thường xuyên.
– Di tích thuộc cấp II phải được liệt hạng và được Nhà nước hoàn toàn quản lí, trong trường hợp đặc biệt Nhà nước cùng dân quản lí. Di tích phải được tu bổ lại theo đúng nguyên mẫu. Nếu là bất động sản của dân thì Nhà nước cùng dân quản lí, dân không được tự tiện sửa chữa, cơi nới, Nhà nước chịu trách nhiệm mọi sửa chữa sao cho giữ di tích giống nguyên mẫu, cùng dân bảo quản và khai thác sử dụng.
– Di tích thuộc cấp III được xét xem có liệt hạng hay không. Nếu là bất động sản của dân thì Nhà nước cùng dân quản lí, khai thác. Dân là chủ nhân của di tích có thể sửa chữa, cơi nới với sự đồng ý của cơ quan quản lí di tích cấp thành phố. Việc sửa chữa cơi nới, xây dựng thêm không được phương hại đến yếu tố quan trọng nhất của di tích.
– Di tích thuộc cấp IV có thể sửa chữa, phá bỏ một phần hay toàn bộ tuỳ theo yêu cầu cụ thể.
Để tiến hành xem xét công trình nào nên giữ lại, công trình nào có thể cải tạo hoặc dỡ bỏ thì chúng ta cần phải tiến hành lập hồ sơ các di tích bao gồm:
1. Lí lịch công trình: niên đại xây dựng và các lần sửa chữa lớn, bối cảnh xây dựng, tác giả di tích (nếu có);
2. Bản vẽ ghi tối thiểu và một số ảnh của di tích.
3. Những tư liệu khác liên quan đến di tích.
Không lập được lí lịch công trình thì không thể nào đánh giá được di tích. Các yêu cầu về hồ sơ có mức độ đầy đủ về khoa học, xã hội – lịch sử tuỳ thuộc niên đại và địa điểm xây dựng trong thành phố Hà Nội theo 4 khu vực sau:
– Khu vực “Thành” Hà Nội: là khu vực thành cổ ở phía Bắc thành phố, giới hạn bởi các đường Trần Phú, Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Lý Nam Đế.
– Khu vực “Thị”: là khu 36 phố phường cũ nằm ở phía Đông Bắc thành phố.
– Khu vực “Làng”: là những vùng mang tính chất nông thôn trong thành phố.
– Khu phô “Tây”: là những khu phố do thực dân Pháp xây dựng theo quy hoạch bàn cờ dưới thời Pháp thuộc nằm chủ yếu ở phía Nam thành phố.
Sau khi có hồ sơ di tích, phân loại hình kiến trúc, phân cấp di tích, chúng ta đánh giá được công trình kiến trúc theo 4 loại giá trị nêu trên và định cách xử lí, bảo vệ, tôn tạo, xây dựng thêm song song với việc xây dựng mới và cải tạo Thủ đô của chúng ta.

Related posts