Kiến trúc 

Cầu Long Biên

cầu long biên, ban đầu gọi là cầu Paul Doumer (tên Toàn quyền Đông Dưcmg từ 1897-1902) được khởi công từ tháng 09/1898 đến tháng 02/1902 khánh thành, là sản phẩm của chương trình thực dân hóa Đông Dương. Cũng như đa số cơ sở hạ tầng mà thực dân Pháp xây dựng ‘ở Việt Nam, cây cầu chủ yếu phục vụ cho mục đích khai thác, bóc lột tài nguyên và nhân công Việt Nam đưa về chính quốc, cầu xây đúng vị trí mà chiếc tàu của thực dân Pháp từng nổ súng bắn vào Ô Quan Chưởng và Cửa Bắc, mở đầu cuộc xâm lược vào Hà Nội.
• Quá trình xây dựng:
– Đấu thầu: Năm 1897, cuộc thi thiết kế cho cầu đã được tổ chức, phương án thiết kế của hãng Daydé & Pillé là phương án được chọn.
– Đơn vị thi công: Hãng Daydé & Pillé trúng thầu thi công phần chính của cầu. Đoạn cầu nối từ Ga Long Biên sang phần cầu chính do hãng thầu Schneider & CIE thi công. Nha công chính Đông Dương xây dựng phần cầu dẫn.
– Thi công cầu: cầu được khởi công từ tháng 09/1898. Đội ngũ thi công là các kỹ sư xây dựng người Pháp và công nhân Việt Nam. Vật liệu xây dựng: 5.300 tấn thanh thép dẹt, thép góc, thép chữ T, thép chữ I mua từ Pháp. Xi măng từ Hải Phòng; vôi từ Huế. Gỗ tà vẹt, gỗ lát chèn mặt đường sắt từ Thanh Hóa. Và 30.000m3 đá hộc xanh cũng được khai thác ở Thanh Hoá. 

Cầu Long Biên 1

Ngày 28.02.1902 khánh thành cầu, cũng là nối liền con đường Hà Nội, Hải Phòng và đặt khúc đường sắt đầu tiên của đường sắt xuyên Đông Dương. Khi ấy, cầu Long Biên là một trong bốn cây cầu lớn nhất thế giới, chỉ xếp sau cây cầu sắt Broocklin bắc qua Sông Đông (East River) của Mỹ, là cây cầu nổi bật nhất ờ Viễn Đông lúc bấy giờ.
• Công nghệ:
Phần dưới là hệ móng giếng chìm, thân mố, trụ là hỗn hợp bêtông cốt thép. kiến trúc phần trên là hệ dàn, dầm thép cán nóng theo thiết kế định hình được liên kết với nhau bằng đinh tán cường độ cao, gồm nhiều nhịp uốn lượn theo mô hình tính toán của biểu đồ bao mômen. cầu Long Biên được dành cho đường sắt đon (khổ l.OOOmm) chạy ở giữa; hai bên là đường rộng 2,6m và 0,4m cho người đi bộ. Chiều dài toàn cầu là 1.681 m (chưa kể phần cầu gạch đã xây dài 800m).
Cầu gồm 20 bệ trụ xây và mố, với chiều sâu 30m và cao 13,5m tính mức nước thấp nhất. Nét độc đáo của cây cầu là đường bộ hai bên, đường sắt ở giữa, luồng giao thông của cầu theo hướng đi xuôi ở phía trái cầu chứ không phải ở bên phải như hầu hết các cầu thông thường khác.
Cầu gồm 19 nhịp dầm thép (dạng dầm mút thừa có nhịp treo). Đường dẫn bằng đá. Trừ hai biên, các nhịp ở giữa có khẩu độ 75m (nhịp số chẵn) và 105m (nhịp số lẻ). Các trụ đều dùng móng chìm hơi ép với chiều sâu 30m và cao 13,5m (tính mức nước thấp nhất). Mỗi nhịp có một đoạn tránh, cho các loại xe thô sơ đỗ tạm nhường đường cho xe hơi.
• Giá trị thấm mỹ – cảnh quan:
Cầu Long Biên có dáng dấp của một con rồng đang uốn lượn rất ohù họp với tên gọi Thăng Long của thủ đô Hà Nội trước đây, mặc dù không ai biết rõ ý tướng thực sự của tác giả cho hình dáng cây cầu này. Tuy nhiên với với sự uốn lượn trên một độ dài lớn, rất phù hợp với cảnh quan khu vực, cầu Long Biên xứng đáng là một trong những cây cầu sắt đẹp nhất thế giới xây dựng trong những năm đầu thế kỷ 20. cầu Long Biên với tầm nhìn thoáng, góc nhìn rộng là điểm nhấn đặc biệt quan trọng của cảnh quan đô thị và đã trở thành một trong những biểu trưng của Hà Nội ngày nay .
• Quá trình xây dựng:
Cuối thế kỷ 19, dân số Hà Nội trong đó có cộng đồng người Âu đã tăng khá nhanh cộng thêm với khoảng 12.000 sĩ quan, binh lính Pháp đóng tại khu vực Thành Nội và khu Nhượng địa, bên cạnh đó tình trạng dịch bệnh trong thời gian này diễn ra rất nặng nề khiến cho việc cung cấp nước sạch trở nên cấp thiết. Năm 1898, hai nhà máy nước đã được xây dựng ờ Hà Nội, trong đó nhà máy nước Yên Phụ chuyên cung cấp nước cho khu Thành Nội, nơi đóng quân chủ yếu của binh lính Pháp và các khu dân cư lân cận. Kèm theo là một tháp nước lớn được xây dựng ở ngay góc phía Đông Thành cổ, được người Pháp đặt tên là Đài đầu (Reservoir do tête) vì vị trí của nó nằm ở đầu phía Bấc thành phố ngược với Đài cuối ở khu vực Đồn Thuỷ, nhưng dân ta quen gọi là tháp nước Hàng Đậu, theo tên con phố mà nó án ngữ (Rue des Graines).
Tháp nước được xây dựng bàng đá hộc dỡ ra từ các bức tường của Thành cổ, tháp có hình trụ đường kính 19m, cao 25m, mái lọp tôn hình chóp. Be nước bàng thép có dung tích 1.250m3 được đặt ở độ cao 21m. Vì phải chịu tải trọng của một khối nước lớn nên toà tháp được xây rất kiên cố với các bức tường đá hình tròn được gia cường bằng các tường xây theo kiểu tia xạ từ trong ra, giữa các bức tường này có cửa vòm. Phía trước đài nước đặt 5 van hãm để khống chế việc cấp nước cho các khu vực theo ý muốn.

Related posts