You are here
Kiến trúc 

Tổng quan nghệ thuật kiến trúc việt nam thế kỉ xx mở đâu (P2)

 Xu hướng kiến trúc dân tộc
Trong thời kì thuộc Pháp, nhiều kiến trúc sư Việt Nam được đào tạo trong Trường cao đẳng MT thuật Đông Dương đã sáng tác những ngôi nhà theo xu hướng dàn tộc. Họ học tập các thày giáo là kiến trúc sư Pháp, họ cũng bị ảnh hướng của xu hướng phong cách Đông Dương, nhưng những sáng tác của họ ít mắc phải sự lai tạp chiết trung của nhiều loại kiến trúc châu Á như các kiến trúc sư người Pháp. Nhà Thuỷ tạ ở bờ hồ Hoàn Kiếm là tác phẩm của hai kiến trúc sư là sinh viên Trường cao đảng Mĩ thuật Đông Dương Võ Đức Diên và Nguyễn Xuân Tùng làm vào đầu những năm 40. Đây là một công trình đẹp mang tính cách dân tộc rõ rệt và hơi phục cổ. Ngôi nhà số 7 Thiền
Quang Hà Nội của chủ nhân Nguyễn Gia Thuỵ do nhóm kiến trúc sư Việt Nam Luyện – Tiếp – Đức thiết kế là một thành công theo xu hướng kiến trúc dân tộc. Cũng nhóm này, năm 1943 xây dựng một ngôi nhà ở phố Hàng Đẫy, KTS Ngô Huy Quỳnh xây dựng ngôi nhà số 84 Nguyễn Du Hà Nội v.v… đều theo xu hướng dân tộc.
Tóm lại, gần nửa thế kỉ XX nước ta nằm dưới ách cai trị của người Pháp, họ đã mang đến nước ta nhiều phong cách kiến trúc từ cổ điến đến hiện đại, từ kiểu trại lính đến phong cách kiến trúc Đông Dương. Trong khi đó những kiến trúc sư Việt Nam thế hệ thứ nhất được đào tạo trong Trường cao đảng Mĩ thuật Đông Dương đã có nhiều cố gắng trong sáng tác theo xu hướng dân tộc.
1. Kiến trúc giai đoạn 1945 -1954
Sau Cách mạng tháng Tám, công cuộc xây dựng đất nước chưa được tiến hành bao nhiêu, nhân dân ta đã phải lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp trong 9 năm. Giai đoạn này, nước ta chia ra làm hai vùng là vùng tự do và vùng tạm chiếm.
Ớ vùng tự do, chính quyền nhân dân lãnh đạo kháng chiến và việc xây dựng chú yếu làm bằng vật liệu tre nứa lá. Tuy nhiên, ngay trong kháng chiến gian khổ, chúng ta cũng làm nên những công trình đáp ứng được những nhu cầu trước nay chưa từng có bằng vật lệu không bền chắc như tre – nứa – lá. Đó là những hội trường chứa hàng ngàn người trong dịp các đại hội Đảng, đại hội văn nghệ toàn quốc; những nhà ăn tập thể rộng lớn, các nhà nghỉ của đại biểu đại hội, các lán trại cho quân đội, những cổng chào đẹp đẽ, nhà của Bộ Tư pháp ở Thái Nguyên, các đại sứ quán Liên Xô và Trung Quốc ở Đại Từ v.v…
Ớ vùng tạm chiếm việc xây dựng không rầm rộ mà có tính chất nhỏ giọt, cầm chừng. Phong cách kiến trúc thời kì này ở các thành phố tạm chiếm là theo chủ nghĩa Công nãng thô sơ: nhà gạch hình hộp, thường dùng mái bằng, ít trang trí. Nhà dân xây rất ít, các nhà tư sản xây dựng một số rạp chiếu bóng theo phong cách chủ nghĩa Công năng.

Tổng quan nghệ thuật kiến trúc việt nam thế kỉ xx mở đâu (P2) 1

2. Kiến trúc giai đoạn 1954 -1975
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hiệp nghị Genève, nước ta bị chia thành hai miền mà ranh giới là vĩ tuyến 17.
Kiến trúc ở các tỉnh miền Bắc trải qua mấy thời kì như sau:
a) Thời kì gỗ
Sau hiệp định Genève 1954, Chính phủ ta về tiếp quản thủ đô Hà Nội và một nửa nước bước vào kiến thiết. Đế nhanh chóng có những công trình kiến trúc đáp ứng ngay cho nhiệm vụ cấp bách, các kiến trúc sư từ chiến khu trớ về đã sử dụng gỗ. Lễ đài và đài liệt sĩ được dựng lên trên quảng trường Ba Đình để phục vụ buổi lễ chào mừng Chính phủ về thủ đô là những kiến trúc đẹp, trang nghiêm đậm đà tính chất dân tộc. Nhà hát nhân dân tại trung tâm thủ đô là một công trình lớn bằng gỗ thoả mãn trong một thời gian dài nhu cầu xem biểu diễn vãn nghệ và hội họp lớn của nhân dân thủ đô. Nhiều khu nhà ớ bằng gỗ được dựng lên đế thoả mãn như cầu ở cấp bách của công nhân viên chức các cơ quan trung ương và Hà Nồi như khu nhà gỗ hai tầng ở bờ sông Hồng, về nghệ thuật kiến trúc trong thời kì gỗ ta nhận thấy tính chất dân tộc rất đậm đà trong một số công trình đặc biệt như lễ đài Ba Đình của KTS. Nguyễn Vãn Ninh, như các cổng chào ở khắp các tỉnh, thành phố.
b) Thời kì gạch
Bước vào chừng năm 60 – 70 một phong cách kiến trúc khác xuất hiện và lan truyền khắp các tỉnh thành miền Bắc, dựa trên cơ sớ chịu lực chính là gạch. Kiến trúc thời kì này là một loại Tân cổ điển với các đặc điếm là đối xứng trang nghiêm, có bệ nhà, có hệ thống cột hoặc tường nảy trụ vượt qua nhiều tầng theo kiểu đại – thức với bước cột đều đặn có mái đua, xênô (máng nước mưa) và nhiều gò chỉ. Phong cách kiến trúc thời kì này phản ánh tính chất ổn định của tư tướng xã hội bằng hình khối đơn giản, chắc, khoẻ, đối xứng. Trong lịch sử, mỗi khi một chế độ chính trị được thiết lập, trước khi tìm được cho mình một hệ thống ngôn ngữ riêng về nghệ thuật, người ta thường có xu hướng sử dụng một hệ thống có sẵn đã được thừa nhận là tốt đẹp để biểu hiện tư tướng xã hội của mình. Hệ thống đó trong nghệ thuật kiến trúc ở phương Tây là kiến trúc cổ điên Hi Lạp – La Mã.
Phong cách Tân cổ điển trong “thời kì gạch” ở nước ta chủ yếu lấy tinh thần cổ điển Hi Lạp – La Mã ở bố cục đối xứng, nhịp điệu hàng cột, phân vị ngang có bệ, có thân, có xênô, nhưng lại không hề dùng hình thức hồi nhà tam giác (fronton). Phong cách Tân cổ điển này đơn giản, mộc mạc nhưng mạnh
khoẻ, đàng hoàng đúng tính chất một dân tộc vừa chiến thắng huy hoàng. Đó là những công trình trụ sở Bộ Kiến trúc, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc của KTS. Nguyễn Ngọc Chân. Học viện Thuỷ lợi, Tổng cục Thống kê của KTS. Đoàn Văn Minh, lễ đài Ba Đình mới, triển lãm Hải Phòng của KTS Nguyễn Văn Ninh, Hội trường Ba Đình của KTS. Trần Hữu Tiềm và Nguyễn Cao Luyện, Bảo tàng Thái Nguyên của KTS. Hoàng Như Tiếp, Trường Dân tộc Trung ương của KTS. Đoàn Ngọ v.v….
c) Thời kì nhà lắp ghép
Các thời kì của kiến trúc thật ra không có ranh giới rõ rệt mà bao giờ cũng có sự gối đầu. Ngay trong thời kì gạch đã xuất hiện một số cấu kiện bêtông cốt thép và bêtông cốt thép lắp ghép như các panen sàn, mái, cầu thang v.v… Tiểu khu nhà ở Kim Liên được xây dựng bằng cấu kiện bêtông cốt thép lắp ghép dưới sự hướng dẫn của kiến trúc sư Triều Tiên tiếp đến các thực nghiệm lắp ghép tấm nhỏ ở khu nhà ở Trương Định, Yên Lãng Hà Nội rồi đến lắp ghép tấm lớn ở tiểu khu Văn Chương của nhóm các nhà kiến trúc Trương Tùng, Phạm Sĩ Liêm, Nguyễn Bá Tùng, Nguyễn Thế Tú đã bắt đầu nở rộ một thời kì lắp ghép. Từ kinh nghiệm ở Văn Chương, kiểu nhà 5 tầng lắp ghép tấm lớn được nhanh chóng nhân rộng ra ở Hà Nội tạo thành những tiểu khu nhà ở Trung Tự, Khương Thượng, Thành Công v.v…
Về mặt quy hoạch đô thị thì trong thời kì này Viện Quy hoạch Đô thị Bộ Xây dựng dưới sự lãnh đạo của KTS. Hoàng Như Tiếp chủ trương áp dụng “lí thuyết tiểu khu” (tức là lí thuyết Family’s neighbourhood của Clarence Perry) và đã tạo ra rất nhiều tiểu khu nhà ờ tại Hà Nội và nhiều thành phố khác trên miền Bắc.
d) Thời kì khung bêtông cốt thép
Lắp ghép tấm lớn cũng như kết cấu gạch đều hạn chế khẩu độ, các không gian kiến trúc bị cứng khó thay đổi theo sự biến động của nhu cầu sử dụng nên kết cấu khung bêtông cốt thép được áp dụng rộng rãi từng bước một. Thời kì này có những công trình tốt như khách sạn Thái Bình của KTS. Huỳnh Lẫm, các khách sạn Đồ Sơn, Bãi Cháy của KTS. Trần Gia Khiêm, Cung thiếu nhi Hà Nội của KTS. Lê Văn Lân, khách sạn Thái Nguyên của KTS. Nguyễn Trực Luyện v.v…
Trong giai đoạn 1954 – 1975, chính quyền Sài Gòn xây dựng không nhiều. Một số công trình có giá trị như những khách sạn trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Huệ ở Sài Gòn, khách sạn Cầu Vồng, Imex Saigon v.v… Đáng chú ý nhất là Dinh Độc lập (nay là Hội trường Thống nhất) do KTS. Ngô Viết Thụ thiết kế, xây dựng trên địa điểm Dinh Norodom cũ và Thư viện khoa học do KTS. Nguyễn Hữu Thiện thiết kế mang tính chất hiện đại nhưng có màu sắc dân tộc. Nói chung những công trình lớn thực sự chỉ được thực hiện từ 1965 đến 1975 nhất là từ 1970 và hầu hết theo phong cách chủ nghĩa Công năng châu Âu có hình hộp với năm nguyên tắc thiết kế của Le Corbusier.
Ở miền Nam, kết cấu khung bêtông cốt thép được sử dụng phổ biến và xây dựng nhiều nhà cao tầng nhất là ở Sài Gòn. Bệnh viện chợ Rẫy có kết cấu khung thép lợp kính, có hệ thống nan chớp nhôm toàn bộ mặt kính lớn ở mặt nhà là một công trình do Nhật Bản làm, có phong cách chủ nghĩa Công năng gần gũi với kiêu hộp kính thép của Mies van der Rohe.
3. Kiến trúc giai đoạn 1975 – 2000
Nghệ thuật kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn đất nước thống nhất có thể chia làm hai thời kì trong thế kỉ XX
– Thời kì từ 1975 đến 1986.
– Thời kì từ 1986, nãm “mở cửa”, đến hết nãm 2000.
a. Thời kì trước “mở cửa” (từ 1975 đến 1986)
Sau khi thống nhất đất nước, nhịp độ xây dựng được đẩy lên một bước. Khắp trong nước xây dựng nhiều công trình công cộng như bệnh viện, nhà trẻ, trường học, nhà thi đấu thể thao, câu lạc bộ, nhà hát, hội trường v.v… như Cung văn hoá hữu nghị Việt Xô ở Hà Nội, Cung văn hoá công nhân mỏ ở Hòn Gai, nhà thi đấu TDTT Hàng Đẫy Hà Nội, khách sạn Thắng lợi, khách sạn Giảng Võ…
Về phương diện xây dựng nhà ở thì tiếp tục sự nghiệp lắp ghép trong giai đoạn trước thống nhất, năm 1975 Bộ Xây dựng đưa ra mẫu nhà ở khung lắp ghép nhiều tầng, sau đó xây dựng khu ở lắp ghép Thanh Xuân và áp dụng mẫu nhà chung cư nhiều tầng có giếng trời ở một số khu nhà ở tại Hà Nội khiến cho những công trình này đa dạng, phong phú hơn trước: khu Kim Giang, Trương Định, Nam Đồng, Bách Khoa, Thành Công, Nghĩa Đô v.v…
Ở miền Nam, công cuộc xây dựng sôi nổi hơn. Nhiều công trình phục vụ công việc được xây dựng như bệnh viện Nhà Bè 100 giường, nhà trẻ quận 11 thành phố Hồ Chí Minh, nhà thi đấu TDTT 4000 chỗ ở quận 3, nhà hát Hoà Bình ở quận 10, câu lạc bộ khu vãn hoá quận 5, hội trường tỉnh uỷ Hậu Giang v.v…

b. Thời kì sau “mở cửa” (từ 1986 đến 2000)
Sau thời điểm “mở cửa”, nền kinh tế có nhiều chuyển biến, hoạt động kinh tế sôi nổi, hoạt động kiến trúc – xây dựng có nhiều bước đi mạnh mẽ. Hai hiện tượng nổi bật trong kiến trúc là: nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều ở các đô thị và một trào lưu kiến trúc dân gian đô thị mới ra đời phát triển rất mạnh và rất nhanh.
*) Nhà cao tầng
Ớ Hà Nội trong giai đoạn trước mở cửa chỉ có một ngôi nhà 11 tầng là khách sạn Hà Nội xây dựng ở Giảng Võ, nay có vô số nhà cao tầng như Fortuna Tower 16 tầng, Hà Nội Tower 25 tầng, khách sạn Horizon 14 tầng, văn phòng Quang Trung 18 tầng, khách sạn Meritus 20 tầng, cao ốc Melia Hà Nội 22 tầng, Vietcombank Tower 22 tầng v.v… Các chung cư cao tầng cũng mọc lên khá nhiều ớ các khu đô thị mới như Linh Đàm, Định Công, Trung Hoà – Nhân Chính, Mĩ Đình… với những nhà cao tầng 9 đến 15 tầng.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, việc phát triển nhà cao tầng diễn ra mạnh mẽ hơn do có nhiều lợi thế thu hút vốn đầu tư. ở thành phố này nhà cao tầng cũng vừa nhiều hơn vừa cao hơn ớ Hà Nội: Saigon Centre 27 tầng, Diamond Plaza 21 tầng, Saigon Tower 17 tầng, Trung tâm Thương mại Sài Gòn 34 tầng. Sun War Bank Tower 22 tầng v.v… nhiều chung cư cao tầng như chung cư Ngô Tất Tố 15 tầng, chung cư Miếu Nổi 18 tầng và rất nhiều chung cư trong các khu đô thị mới như Phú Mĩ Hưng.

*) Kiến trúc nhà ở của dân đô thị
Kinh tế có những bước chuyển mình, công việc làm ăn sản xuất và buôn bán phát triển, dân thành thị có điều kiện chăm lo đến ngôi nhà của mình. Khắp nơi trong các thành phố (và cả một phần nông thôn nữa) hoạt động xây dựng nhà cửa phát triển khá rầm rộ. Nơi nào cũng thấy xây dựng, tất cả mọi ngõ ngách trong thành phố đều thấy gạch, cát, ximăng, sắt thép. Nhà cửa mọc lên nhanh chóng, kiểu cách đa dạng, phong phú, duyên dáng và rực rỡ tạo nên nhũng dẫy phố, những quần thể nhà ở khác hắn về mọi mặt những dãy phô xưa. Một trào lưu kiến trúc dân gian mới của đô thị đã ra đời, nó lớn lên từng ngày, tràn ngập các phố phường, các ngõ ngách của đô thị, kéo dài đô thị ra mọi phía. Những ngôi nhà của người dân đô thị mới xây dựng nói chung có những tính chất sau: thường từ ba tầng trở lên, nếu dọc theo đường phố thì chỉ có chiều rộng nhà khoảng 3m, có khi hẹp hơn (nhà chia lô), kết cấu khung bêtông cốt thép, tường gạch, mái ngói, dùng một số vật liệu mới như các loại kính, khung cửa nhôm, trần nhựa v.v…

Related posts