You are here
Kiến trúc 

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P2)

1.1. THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LÀN THỦ 2 (1920 – 1945)
Giai đoạn từ năm 1920 đến năm 1945, người Pháp thực hiện chủ trương đẩy mạnh đâu tư và khai thác thuộc địa nhầm khôi phục nền kinh tế và củng cố địa vị của Pháp trên thế giới sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ Nhất vào cuối năm 1918. Hà Nội, một thành phố thuộc địa giữ vai trò chiến lược quan trọng ở Đông Dương đà trở thành mục tiêu số một cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ Hai của người Pháp tại đây. Chức năng thành phố là trung tâm hành chính, chính trị và dịch vụ đã được xác định rõ ràng.
Hoạt động kinh tế và xây dựng thành phố với tốc độ và quy mô gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ờ Hà Nội. Các dòng nhập cư vào đô thị đã làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng, từ 7 vạn dân vào năm 1918 tăng lên tới 13 vạn vào năm 1928 và 30 vạn vào năm 1942. Tuân theo quy luật đô thị hóa chung, vùng không gian trống, làng xóm đô thị và vùng ngoại vi đã bắt đầu chịu sức ép về dân cư và đối mặt với các vấn đề xã hội, hạ tầng kỳ thuật.
Trong bối cảnh ấy việc xây dựng và mở rộng đô thị Hà Nội đặt ra những yêu cầu mới trong quy hoạch và quản lý. Năm 1921, Sở kiến trúc và Quy hoạch đô thị trung ương đã được thành lập ở Hà Nội đế kiểm soát quá trình phát triển thành phố, cũng như thực thi các nguyên tắc và quy định trong luật của chính quốc áp dụng tại các thuộc địa . Sự kiện này đã cho phép các chuyên gia quy hoạch và kiến trúc sư Pháp(S) thực hiện những quan niệm về “quy hoạch đô thị hiện đại và khoa học” cũng như “quy hoạch đô thị mang tính văn hóa” áp dụng trong quy hoạch Hà Nội. Nhìn chung, quá trình thực hiện quy hoạch thành phố sau này đều chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Hebrard(l,) trong đề xuất quy hoạch năm 1924 cho Hà Nội: quan niệm phân khu chức năng âô thị, hố cục cấu trúc chặt chẽ và mang tính biếu tượng đặc trưng cho trường phái quv hoạch đô thị Pháp lúc hẩy giờ.
So với thời kỳ trước, quy hoạch thành phố đã mang tính tổng thể và hoàn chỉnh hơn, có sự liên kết giữa các không gian chức năng trong thành phố, tại mỗi khu vực, quy hoạch chi tiết đã được chú trọng nhằm hoàn chỉnh cấu trúc không gian chung. Cụ thê, việc triển khai xây dựng không dừng lại ở các điểm công trình phân tán mà mở rộng hoàn chỉnh cho toàn khu vực, như khu trung tâm, khu ở dành riêng cho người Pháp, khu ở cho người Việt. Khu phố Pháp trên vị trí Hoàng thành xưa, xung quanh dinh Toàn quyền đã được thiết kế chi tiết với hệ thống đường phố kẻ ô cùng những trục bố cục chính chạy theo đường vắt chéo cắt ngang hệ thống đường phố kè ô bình thường. Các trục chính giao nhau tạo nên một hệ thống các quảng trường lớn được bố cục dưới các dạng hình học có trục đối xứng.
Bên cạnh đó, các ý tướng mở rộng không gian thành phố ra vùng ngoại vi và các làng xóm nông nghiệp cũng đã được tính đến trong quy hoạch. Từ năm 1930, giai đoạn quy hoạch mở rộng thành phố về phía Nam ở khu vực nhà máy rượu và hồ Bảy Mầu trên cơ sở nối tiếp các đường phố từ khu phố Pháp xuống phía Nam, tạo thành hệ thống đường phố dạng ô cờ không đồng đều, với các ô phố có quy mô nhở. Đây là khu vực được quy hoạch và xây dựng chú yếu cho người Việt Nam. Họ thuộc tầng lớp tư sản mới trỗi dậy nhờ các hoạt động kinh doanh buôn bán và tầng lớp tiểu tư sản trung lưu do Pháp đào tạo để làm việc cho bộ máy hành chính của Pháp.
Lùi ra xa vùng ngoại ô Hà Nội là nơi tập trung các khu ở của tầng lớp lao động làm thuê người Việt. Họ có nguồn gốc từ nông thôn, vùng quê nghèo tập trung tại đây để tìm kiếm việc làm, với đủ loại nghề tự do. Những người lao động cùng gia dinh họ đang sống tập trung tại các khu ngoại ô không được đầu tư hạ tầng, thiếu tiện nghi tối thiểu, trong các ngôi nhà tạm tự dựng lên với đủ loại vật liệu kiểm được. Các khu ở ngoại ô đã tạo nên một cảnh quan đô thị nghèo nàn, tương phản hoàn toàn với khu phố trung tâm giàu có và đầy đủ tiện nghi của người Pháp.
Khu 36 phố phường ở thời kỳ này về cơ bàn vẫn giữ nguyên hệ thống đường phố. Sự biến đối chủ yếu tập trung ở hình thái kiến trúc từng ngôi nhà và bộ mặt đường phố. Từ những năm 1920, ở nhiều khu vực trong khu 36 phố phường, người ta bắt đầu tiến hành cải tạo hoặc xây dựng mới trên nền nhà cũ. Ngôi nhà mới, cao hai ba tầng, mang phong cách kiến trúc ít nhiều chịu ảnh hưởng của Pháp. Bộ mặt kiến trúc xưa vốn thuần nhất, nay đã bắt đầu có những thay đổi, tuy nhiên còn hạn chế và chưa mất đi dáng vẻ cũ.
Như vậy giai đoạn 1920 – 1945 Hà Nội dã có những bước phát triển vượt bậc về quy mô dân số và đất đai (năm 1942 diện tích cả nội ngoại thành Hà Nội là 130km2 với số dân là 30 vạn người), về quy hoạch, đô thị dược nhìn nhận trong một tổng thể chung có sự gắn kết về không gian: khu phố cổ, khu nhà ở, trung tâm kinh tế, thương mại, trung tâm hành chính. Ngay cả vùng nông thôn ngoại vi cũng đã đóng vai trò quan trọng không kém các khu vực đô thị khác trong cấu trúc thành phố.

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P2) 1

2.2. QUY HOẠCH CỦA ERNEST HEBRAD, GEORGE PINEAU, HENRI CERRUTI
Vào những năm 1920 sau khi tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất, người Pháp chủ trương đổi mới hoạt động xây dựng tại các thành phố thuộc địa. Với quan niệm phát triển thành phố trên quy mô tống thế kết họp giữa quy hoạch chức năng và thiết kế không gian, các lý luận và nguyên tắc quy hoạch hiện đại phương Tây đă được đưa vào áp dụng trong giai đoạn này. Người Pháp muốn qua đây thử nghiệm các nguyên tấc quy hoạch mới, rút kinh nghiệm trước khi áp dụng tại các thành phố chính quốc, đồng thời khẳng định tính văn minh, sự hơn hẳn của mình trên mảnh đất thuộc dịa. Một số chuyên gia đô thị Pháp đã có những đóng góp trong việc đưa quan niệm lý luận hiện đại vào quy hoạch Hà Nội, đó là E. Hebrard, G. Pineau, H. Cerruti.

Related posts