You are here
Kiến trúc 

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P1)

1.1. ĐÔ THỊ HÀ NỘI THỜI KỲ PHONG KIẾN – GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI NGƯời PHÁP ĐẶT CHÂN ĐÉN HÀ NỘI
Trước khi người Pháp đặt chân tới Việt Nam, Hà Nội là một đô thị phong kiến, trung tâm kinh tế – hành chính của tinh Hà Nội . Đô thị Hà Nội có cấu trúc điên hình của các thành phố nông nghiệp truyền thống Đông Nam Á: sự hòa trộn giữa làng xã trong không gian đô thị, tính gan kết cộng đồng trong đời sống sinh hoạt và hoạt động kinh tê nông nghiệp – tiêu thu công nghiệp.

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P1) 1

Hai thành phần chính tạo nên cấu trúc không gian đô thị, chi phối sự phát triển của đô thị Hà Nội trong lịch sử đó là khu thành nội và khu thị dân buôn bán, biểu trưng cho hai yếu tố thành và thị. Cụ thể như sau:
– Thành nội với tư cách là nơi tập trung quyền lực cao nhất của vương triều, cỏ vai trò vô cùng quan trọng, chi phổi trực tiếp tới sự phát triển của toàn bộ thành phố. Đây là yếu tố biểu tượng của quyển lực tập trung, giữ vị trí chủ trốt trong bố cục không gian đô thị phong kiến.
– Trong khi đó, khu thị dân “36 phố phường” nằm về phía Đông của thành nội kéo dài đến bờ sông Hồng, lại là nơi tập trung các hoạt động buôn bản tấp nập, sản xuất tiểu thủ công nghiệp tạo nên sức sổng, sự hap dẫn của dô thị.
Khu vực làng xóm nông nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nằm xen kẽ, mở rộng hơn ra vùng ngoại ô bao quanh, mặc dù không được xem là yểu tố cấu thành đô thị nhưng lại có mối quan hệ gắn kết hữu cơ với hai yếu tố thành và thị trong quá trình sinh tồn của thành phố.
Toàn bộ không gian thành phố có cấu trúc chịu ảnh hưởng bởi quan niệm triết học Phương Đông, trong đó thuật phong thủy đóng vai trò quyết định. Thành nội là yếu tố cơ
ban, điểm nhấn chế ngự không gian thành phố. Thành được lựa chọn ở vị trí địa thế tuân theo các quy định về phong thủy: trục chỉnh theo hướng Bắc – Nam, cổng chính quanh về hưởng Nam phía trước có mạch nước chảy qua, xa hom là Thiên án, phía Tây là ngọn đồi Thanh Long, phía Đông là đồi Bạch Hổ, đằng sau tựa lưng vào dãy núi cao. Thành có mặt bằng hình vuông, gồm hai lớp tường thành và hai lớp hào sâu, vòng thành trong cùng bảo vệ chính quyền trung ương với hệ thống cung điện, dinh phủ nguy nga.
Tưcmg phản với quy luật đăng đối tạo nên dáng vẻ trang nghiêm, thể hiện trật tự xã hội phong kiến của khu thành nội, khu thị dân “36 phố phường” lại chứa đựng những đặc trưng của không gian xã hội truyền thống Việt Nam với hình thái cấu trúc tự do và không đồng đều. Hai yếu tố phố và phường hòa quyện vào nhau tạo nên linh hồn của khu thị dân. Tòan bộ khu 36 phố tập họp nhiều phường hội thủ công, mỗi phường sản xuất một mặt hàng riêng và chiếm một hoặc vài phố. Bản thân mỗi phường đều tập trung cư dân đến từ một làng, nên họ mang theo không chỉ lối sống, phong tục mà cả kỹ thuật xây dựng truyền thống . Nhìn chung, cách tổ chức phường đô thị hoàn toàn khép kín (bằng những cổng lớn) giống như ngôi làng truyền thống. Mạng lưới đường sá nhỏ hẹp (khoảng 3m) và ngắn, phát triển dựa trên hệ thống các con đê nhỏ, dạng bờ ruộng và bờ đất cao, những dấu vết của sự phân chia ruộng phục vụ canh tác nông nghiệp xưa. Hai phía của tuyến phố, nhà cửa phát triển tự nhiên ăn sâu vào thửa đất, có chiều ngang hẹn (không có quy định về chiều sâu nhà).
Như vậy ở giai đoạn này, quyền lực tập trung của giai cấp phong kiến, bên cạnh phương thức sản xuất nông nghiệp của nền văn minh lúa nước đã tác động đến cấu trúc quy hoạch thành phố, thể hiện ở hai không gian tưcmg đối tách biệt: thành nội và khu buôn bản. Trong đó, thành nội là yếu tố chủ đạo, mang tính tượng trưng cao của quyền lực, chi phối tới không gian đô thị, khu buôn bán nơi diễn ra hoạt động kinh doanh, duy trì sự sống, sức hấp dẫn cho đô thị.
Cấu trúc đô thị đặc trưng của thành phố Hà Nội truyền thống được duy trì tới tận những năm cuối thế kỷ 19. Cho đến khi người Pháp, đặt chân tới Hà Nội, việc áp dụng các tiêu chuẩn của một đô thị Phương Tây đã làm thay đổi hòan toàn bộ mặt của đô thị Hà Nội truyền thống. Yếu tố thành dần bị suy giảm đáng kể, trong khi yếu tố thị vẫn duy trì trong suốt quá trình tác động xây dựng của người Pháp ở Hà Nội.
1.2. THỜI KỲ TIÈN THựC DÂN (1875 – 1888)
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm 1858 và đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất vào năm 1873. Mặc dù vậy phải đến 10 năm sau, kể từ cuộc tái chiếm lần hai (1883), hoạt động xây dựng của người Pháp ở Hà Nội mới thực sự ghi dấu ấn, mở đầu công cuộc cải tạo và quy hoạch thành phố thuộc địa.
Dựa trên bản đồ 1873 , có thể thấy cấu trúc đô thị Hà Nội giai đoạn đầu tiền thực dân không có khác biệt nhiều với đô thị phong kiến. Hai mảng đô thị nổi bật bao gồm khu thành cổ với những đường vuông góc của các công sự và có sơ đồ hình vuông tách biệt hẳn vói những khu phố cổ dày đặc phát triển từ phần giáp ranh với phía Đông thành cổ kéo dài tới tận bờ sông. Mặc dù khu thành cổ vẫn đóng vai trò đáng kể trong đời sống chính trị của Hà Nội, là địa điểm lịch sừ mang tính tượng trưng của thành phố, nhưng chức năng đã có ít nhiều thay đổi bởi sự có mặt của quân đội Pháp tại đây.

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P1) 1

1.3. THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN 1 (1888 – 1920)
Người Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, với các hoạt động xây dựng thành phố ở mức độ cao trong khoảng từ năm 1888 đến năm 1920. Với mục tiêu biến Hà Nội không chỉ là thủ phủ hành chính, chính trị của xứ Bắc Kỳ mà còn là thủ đô của Liên bang Đông Dương, Pháp đã đẩy mạnh việc mở rộng không gian thành phố Hà Nội, áp dụng nguyên tắc quy hoạch phương Tây, hình thành các khu chức năng một cách rõ ràng hơn.
* Giai đoạn đầu của thòi kỳ khai thác thuộc địa lần 1 (1888-1900)
Hoạt động xây dựng của người Pháp còn phân bố lẻ tẻ: phá bỏ dần những ranh giới hiện hữu trong thành phố (một phần hệ thống tường thành), quy hoạch dự kiến các tuyến đường ở phía Nam hồ Hòan Kiếm, hoàn thiện trung tâm phía Đông hồ Hoàn Kiếm và xây dựng rải rác các công trinh công cộng. Ke từ năm 1890, ranh giới khu nhượng địa đã mở rộng, với chu vi 15km ôm trọn gần hết thành phố. Việc phá bỏ một phần tường thành ngoài, đoạn khu Nhượng địa cũ đã làm cho không gian Hà Nội mở rộng về phía Đông, tiến sát bờ sông Hồng. Một mạng lưới đường ô cờ dự kiến được mở trên khu vực làng xóm ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm, kết nối phía Tây khu Nhượng địa với khu vực Đông Nam của Thành cổ (xác định trên bản đồ quy hoạch 1890) cho thấy Hà Nội có xu hướng phát triển về phía Nam. Hệ thống làng xóm dần dần bị đẩy lùi xa hơn về phía Tây, Nam và Bắc. Dựa trên hệ thống đường dự kiến này, một đại lộ quan trọng dã được xây dựng – đại lộ Gambetta (phố Trần Hưng Đạo ngày nay), đánh dấu quá trinh xây dựng khu nhà ở của người Pháp ở phía Nam thành phố.

Nhũng đặc điểm cơ bản của đô thị và quy hoạch Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc (P1) 1

Bàn đồ Hà Nội năm 1890

* Giai đoạn sau của thòi kỳ khai thác thuộc địa lần 1 (1900-1920)
Những lý luận của quy hoạch thành phố phương Tây hiện đại đã được người Pháp áp dụng trong giai đoạn này. Một sổ khu chức năng mới được quy hoạch rõ ràng hơn trên cơ sở cấu trúc hiện hữu: khu trung tâm, khu nhà ở, các công trình công cộng, xí nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ, mờ rộng và hoàn thiện hệ thống giao thông thành phố, xây dựng tuyến giao thông đối ngoại. Ba khu vực chính trong quy hoạch thành phố giai đoạn Tiền thực dân vẫn được xác định trên bản đồ năm 1902 đó là khu thành cổ, khu 36 phố phường và khu Nhượng địa cũ

 

 

Related posts