You are here
Kiến trúc 

Nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ

Từ xa xưa, do đặc điểm địa lí, phía bắc có dãy Hymalaya như một bức tường thành hùng vĩ ngăn cách Ân Độ với các nước khác. Ba phía còn lại là biển. Ân Độ hầu như không biết đến những nền văn minh khác. Trong tình trạng biệt lập như vậy, Ân Độ đã xây dựng một nền văn minh cổ đại rực rỡ từ 3000 nãm trước Công nguyên, đó là nền văn minh Indux. Trong thời kì nô lệ, thổ dân Đravida ở đây đã biết nghệ thuật quy hoạch đô thị, việc khai quật được hai thành phố Mohengiô Đarô và Hapáca cách nhau 600km cho ta thấy những quy hoạch đô thị đều đặn. Thành phố rộng hàng trăm hécta chia làm nhiều ô phố vuông vắn, các đại lộ thẳng góc với nhau, có hệ thống cấp nước phức tạp hoàn hảo như ở thành phố La Mã cổ đại có các cống thoát nước xây gạch ngay dưới đường phố, có nắp mở ra để quét dọn thường xuyên. Nhà ở từ một đến hai tầng không có cửa sổ trông ra đường phố, các buồng hướng vào một sân trong mà ngày nay ta còn thấy ở nhiều nước Phương Đông.

Nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ 1

Kiên trúc Phật giáo
Vào thế kỉ thứ VI trước Công nguyên xuất hiện đạp Phật. Tôn giáo này để lại những công trình kiến trúc rất đặc sắc, bao gồm ba loại là Stupa, Chaitya và Vihara. Stupa là lăng mộ hình bát úp xây bằng gạch, bên ngoài ốp đá, chung quanh có hàng rào và bốn cổng bằng đá. về sau người ta cũng xây dựng Stupa ở những địa điểm thiêng liêng và có di tích của Phật. Stupa tượng trưng cho vũ trụ mà bốn cổng là bốn phương. Trên chỏm cầu bát úp là một tán vàng theo kiểu cái lọng có nhiều tầng. Stupa còn lại nguyên vẹn là ở Xanchi (hình 1) xây dựng từ thế kỉ II trước Công nguyên. Stupa này có đường kính 32m, cao 12,80m, tường rào cao 4,30m và bốn cổng đều cao 10m. Hàng rào và cổng trước kia được làm bằng gỗ không trang trí, sau được thay bằng đá với nhiều trang trí rất công phu. Chính vì thế, đã được tạo dáng y hệt hình thức các phiến gỗ để giữ nguyên truyền thống, cổng phía bắc là đẹp nhất. Các cổng của Stupa ở Xanchi là pho sử sống động. Các phù điêu đặc biệt phong phú đã diễn tả các sự tích về vua Suđođara đi đón con trai là Thích Ca Mầu Ni khi đắc đạo, vua Bambisara đi thăm Thích Ca, vua Asôka đang chiêm ngưỡng cây bồ đề nơi Phật đắc đạo.
Chaitya và Vihara đều là công trình được tạc vào trong núi đá. Chaitya là nơi thờ cúng. Trước đây, những chùa thờ Phật đầu tiên chỉ là những ngôi nhà gỗ đơn giản lợp rơm rạ. Những công trình ấy nhanh chóng bị hủy hoại với thời gian, nên vào thế kỉ IV trước Công nguyên người Ân Độ đã tạc hẳn những chùa vào núi đá. Chaitya ở Kacli là một công trình đồ sộ làm vào thế kỉ I. Đẹp nhất là gian lễ Phật với hai hàng cột đá đồ sộ cao chừng 7m, trên đó là trần đá hình cuốn tròn cao khoảng 7m nữa. Ớ Agianta, trường đại học Phật giáo có 26 điện thờ và toàn bộ trường được đục vào sườn núi trong một thung lũng. Lối vào theo truyền thống có cửa sổ lớn hình móng ngựa ớ trên, dưới là cửa vào có hai cột lớn ở sảnh. 
Vihara là tu viện đục trong núi đá. Vihara Elephanta (thế kỉ VII) có một sân ở giữa, chung quanh là các buồng cho thầy tu, theo dạng quen thuộc của ngôi nhà những người Ariăng khá giả vẫn tồn tại đến ngày nay. Vihara ờ Enlora (thế kỉ VII) có các buồng thầy tu xếp thành ba tầng nhà.
Về loại công trình đục vào núi đá phải kể đến đền Kailasa ở Enlora (thế kỉ VIII). Đền này khởi công vào khoảng năm 760 do vua Krixna I làm đê dâng thần Kailasa đã giúp nhà vua chiến thắng ở phương nam Ân Độ. Để tạc ngôi đền vào đá, các nhà xây dựng phải mở một công trình sâu từ 15m đến 50m, tách ra ở giữa một khối đá lớn để tạc thành một ngôi đền cao 2 tầng có điện thờ trung tâm, trên có mái hình Kim tự tháp, chung quanh là các sân và các điện thờ phụ.

Related posts