You are here
Kiến trúc 

Khoảng cách giữa nền kiến trúc Việt Nam và thế giới

Việt Nam ta là một nước nghèo, những khoảng cách giữa nền kiến trúc Việt Nam và thế giới bộc lộ qua các mặt: Khoa học kĩ thuật xây dựng, trình độ nghệ thuật, lí luận nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch đô thị.
Nguyên nhân của sự tụt hậu đó là:
1. Chính sách ngu dân của thực dân Pháp
Người Pháp rêu rao là “Khai hoá” cho dân thuộc địa nhưng thật ra chính sách của họ là “Ngu dân”. Do đó rất hạn chế phát triển giáo dục, mở mang về khoa học kĩ thuật. Chính sách của thực dân Pháp chủ yếu là “Khai thác thuộc địa”.
2. Tình trạng chiến tranh suốt 30 nãm trong cả nước
Nguyên nhân chiến tranh đã kìm hãm sự phát triển của đất nước một cách trầm trọng. Trong tình trạng chiến tranh ác liệt, việc tiếp xúc với thế giới là rất hạn chế. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, chúng ta hầu như không được tiếp xúc chút nào với thế giới. Mãi đến chiến thắng biên giới 1950 mới mở một đường tiếp xúc với Trung Quốc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta có sự tiếp xúc với các nước trong phe XHCN qua việc gửi học sinh sang học ở các nước bạn, qua những hội nghị quốc tế và qua một lượng thông tin bằng sách báo chủ yếu bằng tiếng Nga.
Cuộc chiến tranh với đế quốc Mĩ vô cùng tàn khốc. Chúng muốn đưa Việt Nam trở lại thời kì đồ đá. Đây là một cuộc chiến của David chống tên khổng lồ Guliat. Chúng ta đã thắng, nhưng một thời gian dài phải chịu đựng sự nghèo khổ; túng thiếu mọi bề.
Hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm đã làm chúng ta lạc hậu so với thế giới nhiều mật trong đó có kiến trúc.
3. Trình độ khoa học kĩ thuật thấp kém
Qua chiến tranh, khoa học quân sự phát triển, nhưng các ngành khoa học khác không có điều kiện phát triển, nhất là khoa học kĩ thuật xây dựng càng kém phát triển vì trong chiến tranh ta xây dựng rất ít.
4. Trình độ lí luận về nghệ thuật kiến trúc và quy hoạch đỏ thị thấp
kém vì ít tiếp xúc với thế giới và không có người và điều kiện nghiên cứu những vấn đề của việc xây dựng trong hoà bình.
Ta hãy xem xét các khoảng cách giữa kiến trúc việt nam và thế giới một cách chi tiết:
Trước khi thực dân Pháp xâm lược: Chúng ta có nghệ thuật kiến trúc truyền thống thống nhất từ kiến trúc dân gian đến các kiến trúc lớn như kiến trúc tôn giáo, các kiến trúc dinh thự, cung đình, lăng tẩm. Thời gian này hầu như nước ta chỉ có một cửa chính thông với Trung Quốc mà thôi.
San khi thực dân Pháp xâm lược: Người Pháp mang vào nước ta một số phong cách nghệ thuật kiến trúc phương Tây. Từ đấy ta thêm một cửa thông với thế giới phương Tây.
Từ khi Độc lập (1945): Việt Nam có tiếp xúc với thế giới và từ đấy mới thấy khoảng cách giữa chúng ta và thế giới.
Hãy xem xét từ trào lưu Moderne là bước đầu của kiến trúc hiện đại thế giới.
A. Trào lưu Moderne (còn gọi /à Art Nouveau, Jugendstil, Modemisme v.v…)
Cuối thế kỉ XIX, Bruxelles thủ đô nước Bỉ, là trung tâm của trào lưu Modeme thế giới.
– Ở Bỉ có Victor Horta xây dựng ngôi nhà Tassel năm 1893.
– Ớ Anh Quốc có Mackintosh làm trường mỹ thuật Glasgow nãm 1899.
– ơ Pháp : Henry Labrouste xây dựng biệt thự Saint Genevieve năm 1843.
– ơ Đức: Henry Van de Velde xây dựng trường Weimar năml906.
– Ở Hà Lan: Berlage xây dựng sở giao dịch Amsterdam năm 1885 – 1897.
– Ở Áo: Otto Wagner thiết kế quỹ tiết kiệm Vienne năm 1904 – 1906.
– Và cao trào của trào lưu Modeme thể hiện trong triển lãm quốc tế ở Paris năm 1900, lúc đó đăng quang hai kiến trúc sư Modeme Pháp là Hector Guimard và Jules Lavirotte.
Như vậy trào lưu Modeme tồn tại và thịnh hành ở châu Âu trong hơn một thập kỉ cuối thế kỉ XIX tức là từ 1890 đến 1900.
Ớ Việt Nam, công trình sớm nhất mang phong cách Modeme là khách sạn Majestic ở Sài Gòn (1925) và cửa hàng Chaffanjon xây dựng ở Huế (1925). Còn hầu hết các công trình xây dựng ở Việt Nam theo phong cách này trong thập kỉ 1930 – 1940 như những biệt thự ở Sài Gòn do KTS. Masson (1934), KTS. Chausson (1935), KTS. Hoàng Hùng (1940) thiết kế; ớ Đà Lạt như dinh Toàn quyền do KTS. Paul Veysseyre thiết kế (1937), Viện Pasteur do KTS. Charles Christian (1935); biệt thự của Bảo Đại do KTS. p. Veysseyre (1934), Chợ Đà Lạt do KTS. Georges Pineau (1935). Ở Hà Nội năm 1930 xuất hiện một loạt công trình như nhà in ÍDEO (Nhà in báo Nhân Dân ngày nay), nhà in Viễn Đông, Ngân hàng tín dụng Đông Dương (KTS. Georges Trouvé) v.v…
Như vậy độ lệch (tức khoảng cách) của trào lưu Moderne của thế giới với Việt Nam là từ 30 đến 40 nãm.
B. Chủ nghĩa Công năng (Fonctionalisme)
Về lí luận của chủ nghĩa Công năng phải kể từ những tác phẩm của KTS. Violet Le Due (Pháp) như “Từ điển Kiến trúc Pháp” (1854) và “Nói chuyện về kiến trúc” (1863). Chính những tài liệu này cũng là những lí luận chủ yếu được các giáo sư người Pháp giảng tại Trường cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương.
Còn vể công trình thì những ngôi nhà sớm nhất theo xu hướng chủ nghĩa Công năng được xây dựng tại Chicago do các kiến trúc sư thuộc trường phái
Chicago thiết kế. Đó là cửa hàng Marshall Field của KTS. Richardson (1885 – 1887), ngôi nhà Hãng Bảo hiểm của KTS. William le Baron Jenney (1883 – 1885), ngôi nhà Reliance Building 15 tầng của hai KTS. Bumham và Root xây dựng nãm 1889 là những đỉnh cao của trường phái Chicago. Cuối cùng phải kể đến những công trình của một kiến trúc sư nổi tiếng nhất trường phái Chicago là Louis Sullivan, nãm 1886 – 1889 ông đã cùng Dankmar Atler xây dựng công trình Giảng đường Chicago.
Như vậy ta có thể lấy năm 1885 là nãm tượng trưng cho những sáng tác đầu tiên theo chủ nghĩa Công năng trường phái Chicago.
Ở Việt Nam, công trình rõ rệt nhất theo xu hướng chủ nghĩa Công năng và cũng sớm nhất là bệnh viện René Robin (bệnh viện Bạch Mai ngày nay) do KTS. Charles Christian thiết kế và xây dựng vào năm 1930.
Như vậy khoảng cách về xu hướng chủ nghĩa Công nãng là 45 nãm. Riêng về nhà chọc trời là một đặc điểm kiến trúc hiện đại, một kết tinh sâu sắc của chủ nghĩa Công năng thì khoảng cách đó có khác. Năm 1883 – 1885 William le Baron Jenney xây dựng ngôi nhà bảo hiểm 11 tầng tại Chicago, ở Việt Nam đầu những năm 1980, khách sạn Thăng Long ở Giảng Võ cũng 11 tầng do KTS. Huỳnh Thanh Xuân thiết kế (Nay là khách sạn Hà Nội). Khoảng cách đúng 100 năm! Trong xu hướng chủ nghĩa Công năng, một kĩ thuật quan trọng luôn luôn được áp dụng đó là xây dựng lắp ghép bằng các cấu kiện sản xuất sẵn. Gọi tắt là lắp ghép.
Phương án nhà bằng BTCT lắp ghép đầu tiên do Le Corbusier đưa ra năm 1914. Đó là phương án DOM-INO. Sau đó năm 1927 khu nhà lắp ghép Weissenhof ra đời, năm 1929 khu nhà Siemensstadt của Gropius được xây dựng.
Ớ nước ta năm 1960 với sự giúp đỡ của chuyên gia Triều Tiên, chúng ta xây dựng khu Kim Liên, một khu tập thể xây dựng bằng cấu kiện đúc sẵn. Năm 1970 chúng ta thực nghiệm lắp ghép nhà tấm lớn ở khu Vãn Chương (Hà Nội), cùng năm ấy chúng ta cũng thực nghiệm xây dựng lắp ghép theo hệ thống Sandino của Cuba.
Nếu so với thời điểm của DOM-INO thì độ lệch của xây dựng lắp ghép của chúng ta là từ 46 đến 56 năm; nếu so với những khu xây dựng lắp ghép của các kiến trúc sư ở Bauhaus thì khoảng cách đó là 35 đến 45 năm.
Ở nước ta trong những năm 1970 chúng ta xây dựng một số công trình mang đậm xu hướng chủ nghĩa Công năng thể hiện ở việc áp dụng 5 nguyên tắc của ngôi nhà hiện đại do Le Corbusier đưa ra năm 1920. Như vậy là sau 50 năm, các nguyên lí này mới được áp dụng ở Việt Nam như các công trình: khách sạn Thái Bình (KTS. Huỳnh Lẫm – 1970), khách sạn Thái Nguyên (KTS. Nguyễn Trực Luyện – 1970), khách sạn Hải Âu, khách sạn Công đoàn Đồ Sơn, khách sạn Bãi Cháy (KTS. Trần Gia Khiêm những năm 1970), Nhà văn hoá thiếu nhi Hà Nội (KTS. Lê Vãn Lân – 1974), khách sạn Thắng Lợi (KTS. Kintana – 1975), nhà khách Chính Phủ (KTS. Diêu Công Tuấn – 1974) v.v…
Tóm lại Kiến trúc Hiện đại thế giới với danh nghĩa là một trào lưu mà mạnh mẽ nhất là chủ nghĩa Công năng đã đến Việt Nam nói chung sau một nửa thế kỉ !
C. Kiến trúc Hữu cơ (Architecture Organique)
Thực chất kiến trúc truyền thống Việt Nam là kiến trúc Hữu cơ. Trong trào lưu kiến trúc Hiện đại, kiến trúc Hữu cơ là một trường phái kiến trúc nổi tiếng với các kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, Richard Neutra, Alvar Aalto. Ta có thể lấy năm 1936, năm xây dựng tác phẩm Biệt thự trên thác (do Frank Lloyd Wright thiết kế) làm mốc ra đời của trường phái này để so sánh với những công trình biệt thự của chúng ta xây dựng từ những năm 1970 ớ Đồ Sơn và Bãi Cháy theo tinh thần kiến trúc Hữu cơ: những ngôi nhà hiện đại nằm hài hoà với thiên nhiên có núi và biển cùng thảm thực vật phong phú vùng duyên hải Bắc Bộ. Độ lệch về thời gian là 35 năm.
4. Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionìsme)
Chủ nghĩa Biếu hiện trong kiến trúc hiện đại thế giới xuất hiện hai pha. Pha thứ nhất kể từ tác phẩm nhà thờ Sagrada Familia của Antonio Gaudí xây dựng năm 1882 tại Barcelona. Trong pha này ngoài Gaudí làm những công trình xuất sắc như Mila, nhà Batllo, công viên Guell v.v… Kiến trúc sư Eric Mendelsohn làm tháp Einstein (1920), KTS. Poelzig xây dựng nhà hát Berlin (1919), KTS. Rudolf Steiner xây dựng cung thính phòng Geotheanum (1924- 1928).
Pha thứ hai, chủ nghĩa Biểu hiện lại xuất hiện với cái tên là Tán biểu hiện (Néo-Expressionisme) với các tác phẩm nhà thi đấu khúc côn cầu ở Đại học
Yale (1958) và Ga hàng không TWA (1961) của KTS. Eero Saarinen. Ở nước ta trong kiến trúc hiện đại xuất hiện một công trình theo xu hướng Biểu hiện là Bảo tàng cổ vật ở Nam Định vào năm 1970, tác giả là kiến trúc sư lão thành Nguyễn Cao Luyện. So với thời điểm Gaudí làm nhà thờ Sagrada Familia thì khoảng cách là 90 năm (từ 1882 đến 1972), nếu so với tháp Einstein của Mendelsohn thì khoảng cách là 50 năm (1920 – 1972). Nếu so pha thứ hai với những tác phẩm của Saarinen thì độ lệch chỉ từ 10 đến 12 nãm.
Theo xu hướng này trong những năm 1990 các KTS. Đặng Việt Nga và Lữ Trúc Phương đã xây dựng những công trình như khách sạn Hằng Nga, ngôi nhà Trãm mái, Đường lên Cung Trãng ở Đà Lạt.
5. Chủ nghĩa Thô mộc (Brutalism)
Chủ nghĩa Thô mộc xuất hiện tại Anh Quốc với hai KTS. Peter và Alison Smithson nãm 1953. Ớ Việt Nam có vài biểu hiện của chủ nghĩa Thô mộc ớ Cung văn hoá công nhân mỏ Quảng Ninh (1970), Công trường quốc tế ở Sài Gòn (1969). Độ lệch là 20 năm.

Khoảng cách giữa nền kiến trúc Việt Nam và thế giới 1

6. Kiến trúc Hậu hiện đại (Post – Modern Architecture)
Hai công trình kiến trúc Hậu hiện đại rõ rệt nhất đi theo xu hướng chủ nghĩa Cổ điển – Hậu hiện đại ở nước ta là khách sạn Metro Politain và khách sạn Caravelle đều xây dựng trong những năm 90 của thế kỉ trước. So với thời điểm mà nhà lí luận sử học kiến trúc Charles Jencks tuyên bố sự ra đời của kiến trúc Hậu hiện đại (1972) khoảng cách đó là 20 năm.
7. Kiến trúc Hiện đại mới (New Modern Architecture)
Các đại diện xuất sắc của trào lưu này là leo Ming Pei, Richard Meiyer, Tadao Ando v.v… Nếu lấy năm 1978 làm mốc ra đời xu hướng này, năm mà Pei xây dựng toà nhà phía đông của triển lãm nghệ thuật quốc gia Washington, thì ta có một khoảng cách 20 năm so với một công trình làm theo xu hướng này là nhà học H2 ở Đại học Xây dựng do KTS. Nguyễn Mạnh Thu thiết kế.
8. Kiến trúc Công nghệ cao (High-Tech)
Người ta thường lấy ngôi nhà trung tâm văn hoá Pompidou (thường gọi là trung tâm Beaubourg) ở Paris do Renzo Piano và Richard Roger thiết kế làm điển hình cho sự ra đời của trào lưu High-Tech. Từ đấy thế giới đi theo xu hướng này rất mạnh mẽ do tiến bộ khoa học kĩ thuật ngày một nhanh chóng. Trung tâm Pompidou được xây dựng vào năm 1971 – 1977. ơ nước ta đã có vài công trình đi theo xu hướng này đó là nhà biểu diễn cá heo ở đảo Tuần Châu do KTS. Huỳnh Tám thiết kế (2000) và Trung tâm thưcmg mại và triển lãm Hải Phòng do KTS. Nguyễn Tiến Thuận thiết kế (2004). Khoảng cách từ 25 đến 30 năm. Với hai công trình trên chúng ta có thể hi vọng xu hướng High-Tech sẽ có vị trí ở Việt Nam và tới đây có những thành tựu đáng khích lệ.
9. Phi kiến trúc (Déarchitecture)
Xu hướng này chủ yếu dành cho các sáng tác của nhóm SITE ớ Hoa Kì trong những năm của thập kỉ 70 thế kỉ trước. Chính nhóm SITE đã chọn cho mình tên “Phi kiến trúc” này. Xu hướng này quá mới mẻ và cũng rất “gay cấn”, hay gây sự cố. Tuy nhiên ở nước ta mới đây cũng có một thực nghiệm nho nhỏ là cửa hàng Coop Mart ở thành phố Hồ Chí Minh. So với những sáng tác của SITE thì khoảng cách là 30 năm.. Hướng đi này rất khó khăn, cần hết sức thận trọng và nên nhớ rằng đằng sau cái vẻ dang dở đảo ngược và đôi khi hài hước đó là một thứ triết học sâu sắc phản ánh tư tưởng xã hội của một tầng lớp người trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
10. Phi cấu tạo (Deconstruction)
Xu hướng nghệ thuật kiến trúc này có thể tính từ năm hoàn thành công trình bảo tàng Guggenheim Bilbao ở Tây Ban Nha năm 1995 – 1997 do KTS. Frank O’ Gehry thiết kế. Ở nước ta có thế’ nói là chưa có công trình nào làm theo xu hướng này vì nó dòi hỏi trình độ khoa học kĩ thuật rất cao, trình độ thiết kế và thi công đặc biệt tinh vi. Tuy nhiên quán café Window ở thành phố Hồ Chí Minh đã có một chút thử nghiệm theo xu hướng này là tạo nên những kết cấu lệch lạc phi cấu tạo. Nếu coi đó là một thực nghiệm của phi cấu tạo thì khoảng cách cũng là 10 năm.
11. Kiến trúc Sinh thái (Ecological Architecture)
Đây là một xu hướng lớn của kiến trúc hiện đại thế giới trong thế kỉ XXI. Xu hướng này đặc biệt có lợi cho các nước thế giới thứ ba, cho nên đại diện là các kiến trúc sư Ken Yeang (Malaysia), Charles Correa (Ân Độ),
Bruno Stagno (Costarica) v.v… Tác phẩm ngôi nhà tháp 15 tầng Menara Mesiniaga do Ken Yeang xây dựng ở Kuala Lumpur thú đô Malaysia có thế coi là bản tuyên ngôn của xu hướng Kiến trúc Sinh thái, về loại kiến trúc này, chúng ta hầu như chưa có công trình nào, mặc dầu chúng ta sử dụng cụm từ “sinh thái” rất nhiều. Nào là “du lịch sinh thái”, “vườn sinh thái”, “Café sinh thái” v.v… Kiến trúc Sinh thái mới đây đã được công bô như một xu hướng kiến trúc lớn của thế kỉ XXI trong Đại hội Kiến trúc sư quốc tế (UIA) năm 1999 tại Bắc Kinh. Đó là thứ kiến trúc hiện đại tiết kiệm triệt để năng lương, hạn chế tối đa sự ô nhiễm môi trường và đưa con người gần với thiên nhiên.
Về mặt quy hoạch đô thị thì suốt một thời gian dài, từ những năm 1960 đến những năm 1980 chúng ta áp dụng lí thuyết tiểu khu tức là lí thuyết “đơn vị ở lân bang” (L’unite de voisinage hay là The family’s Neighbourhood) của Clarence Perry. Với lí thuyết này ở Hà Nội chúng ta xây dựng nhiều khu nhà ở như Kim Liên, Trung Tự, Khương Thượng, Giảng Võ, Thành Công v.v… và ở nhiều đô thị khác trên miền Bắc cũng áp dụng lí thuyết này. Cách tổ chức khu dân cư theo kiểu tầng bậc đó đã bộc lộ nhiều bất cập trong cuộc sống mới, nhất là từ khi “mở cửa”. Chúng ta đã thấy điều đó nhưng đến nay đã tìm ra được một lí thuyết nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam chưa hay chỉ là những điều chỉnh lí thuyết tiểu khu mà thôi! Hiện nay khắp trong nước mọc lên nhiều khu đô thị mới, những bất cập trong “không gian mở”, không gian dịch vụ của những đô thị mới này bộc lộ ở nhiều cấp độ, chúng ta đã thiết kế quy hoạch những khu đô thị mới ấy theo những lí thuyết nào? Đó là điểm chúng ta phải tìm ra để rút ngắn khoảng cách về lí thuyết đô thị với thế giới, để công tác quy hoạch của chúng ta có hiệu quả hơn.

Related posts