You are here
Kiến trúc 

Bàn về bản sắc của kiến trúc

Trong những chuyến đi du lịch nước ngoài, đến mỗi thành phố, cái đập vào mắt ta mạnh mẽ và thường xuyên nhất là kiến trúc của thành phô’ đó, của địa phương đó. Sang thành phố khác, địa phương khác và nhất là sang nước khác thì kiến trúc lại khác đi rõ rệt. Ớ mỗi nơi kiến trúc có một sắc thái riêng khiến ta nhận ra nó ở đâu. Đó là bản sắc của kiến trúc. Có hai loại bản sắc: một là bản sắc dân tộc trong đó bao gồm bản sắc địa phương, bản sắc tộc người, hai là bản sắc của cá nhân người sáng tác ra công trình kiến trúc, đó là kiến trúc sư (KTS). Ở đây ta không bàn đến bản sắc của KTS, mà bàn về bản sắc dân tộc.

Từ những phố xá quanh co vùng núi đến những làng xóm êm đềm dưới luỹ tre đồng bằng, từ những nhà sàn trên cao nguyên đến những đô thị ven biển những chòm xóm bên bờ sông lạch ở đồng bằng Nam bộ, tất cả đều có những sắc thái riêng biệt của từng địa phương, đó là bản sắc kiến trúc, bản sắc dân tộc. Chúng ta tự hỏi ngày xưa ông cha ta làm thế nào mà tạo ra bản sắc dân tộc khiến chúng ta ngày nay đi đâu cũng nhận thấy và rất tự hào về những công trình kiến trúc các cụ để lại, nhưng đồng thời cũng rất lúng túng không biết nên vận dụng những di sản đó thế nào dể thế hiện được bản sắc dân tộc trong thời đại hiện nay! Thực ra khi sắp xếp các bản làng thôn xóm, khi xây dựng các đình chùa đền miếu, xây dựng những ngôi nhà cho mình, ông cha ta không hề nghĩ đến phải làm gì để thể hiện bản sắc của địa phương, thể hiện tính chất dân tộc mà chỉ đơn giản làm sao cho tiện nghi, phù hợp với địa hình địa vật, phù hợp với khí hậu, phù hợp với phong tục tập quán, tín ngưỡng của cộng đồng; làm thế nào cho đẹp, cho vừa mắt. Thế là công trình kiến trúc ra đời, hoặc là quy hoạch làng bản hoặc là công trình công cộng, công trình nhà ở. Chính những yếu tố kể trên đã được ông cha ta giải quyết thoả đáng về mặt vật chất như phù hợp với môi trường, về mặt tinh thần như phù hợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng v.v… đã làm nên bản sắc dân tộc của kiến trúc. Nhà cửa dân gian các nước phản ánh rất rõ tính chất dân tộc ấy. về mặt vật chất, công trình kiến trúc cần phù hợp với môi trường trong đó có ba yếu tố là khí hậu, địa hình và vật liệu xây dựng. Ớ xứ lạnh có băng tuyết nên mái nhà có độ dốc lớn để tuyết không đọng trên mái thành lớp dày rất nặng, tường nhà dày và kín, cửa sổ kính rộng để lấy ánh sáng vì về mùa đông bầu trời xứ lạnh thường u ám – nhà có lò sưởi nên ống khói và ống thông hơi vượt lên trên mái. Phong cảnh mùa đông buồn tẻ với tuyết trắng xoá nên nhà dân gian các nước xứ lạnh thường dùng màu sắc trang trí mặt nhà cho vui mắt.

Bàn về bản sắc của kiến trúc 1

Trên đây là những yếu tố vật chất góp phần làm nên bản sắc của kiến trúc. Yếu tố tinh thần lại có những đóng góp lớn cho việc biểu hiện bản sắc dân tộc. Yếu tố này bao gồm lối sống của cộng đồng, phong tục tập quán và tín ngưỡng. Đối với ta và một số nước châu Á, phong thuỷ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc bố cục làng bản, bố cục ngôi nhà, cách trổ cửa sổ, cửa đi, cách mở cổng và vị trí cổng v.v… Bố cục tổng thể nhà tuỳ thuộc sự phân khu chức năng ngôi nhà theo lối sống ba thế hệ và theo số lượng nhân khẩu. Số gian nhà lẻ là phụ thuộc vào vị trí bàn thờ cần trang trọng ở giữa nhà và nhiều tín điều khác. Nhưng “con người sáng tạo ra mọi vật dụng theo nguyên tắc đẹp” (Karl Marx) cho nên cũng là cái mái, mỗi dân tộc làm theo cách của mình mà cho là đẹp cũng là viên ngói nhưng cũng có bao nhiêu hình thức từ đơn giản đến cầu kỳ có hoa vãn và màu sắc. Hệ thống kết cấu tre, gỗ, đá, gạch là yếu tố vật chất nhưng đã được thực hiện theo nguyên tắc đẹp và chúng biếu hiện bản sắc địa phưcmg và dân tộc một cách đậm đà. Để tăng thêm mĩ quan, con người ở bất kì nơi nào trên hành tinh này cũng kết hợp các nghệ thuật hội hoạ và điêu khắc vào công trình kiến trúc – nghệ thuật tạo hình này thường phản ánh cuộc sống, tâm trí tình cảm của con người một cách trực tiếp, nghệ thuật hoa văn cũng phản ánh cuộc sống nhưng gián tiếp hơn – Những nghệ thuật này mang đậm tính dân tộc.

Tất cả những yếu tố trình bày trên, mỗi cái một chút làm cho công trình kiến trúc mang bản sắc dân tộc, bản sắc địa phương. Trở lại sự lúng túng của KTS chúng ta ngày nay trong việc vận dụng kinh nghiệm của cha ông đê tạo nên những công trình kiến trúc mang bản sắc dân tộc – cuối nãm 1995 KTS. Nhật Bản nổi tiếng Kenzo Tange đến Việt Nam, ông đã nói: không ai ấu trĩ đem một mái nhà cổ úp lên một công trình kiến trúc hình hộp rồi bảo đó là dân tộc – hiện đại. Cần phải thấu hiếu một cách tường tận sâu sắc những nguồn gốc hình thành kiến trúc truyền thống. Như vậy, đã biết ông cha ta làm ra truyền thống như thế nào thì chúng ta trước hết cũng làm như vậyKenzo Tange đã có một cách tiếp cận rất độc đáo khác thường để biểu đạt bản sắc dân tộc. Với những luận điểm mà ông phát biểu: “Truyền thống cần phải tham gia vào quá trình sáng tạo giống như chất xúc tác trong phản ứng hoá học, nó không có mặt trong sản phẩm cuối cùng”, người KTS không nô lệ vào các hình thức cổ truyền mà phải nắm bắt được cái tinh hoa về mặt tinh thần của dân tộc, ông đã đưa ra nguyên lí “phản truyền thống”, cách làm của ông rất táo bạo.

Ông quyết định lộn trái những nét truyền thống dân tộc như thanh nhã, nhẹ nhàng, tính chất trữ tình êm ả, vẻ thuỳ mị thanh bình tĩnh lặng của kiến trúc cổ truyền bằng hệ kết cấu bêtông cốt thép: lấy cái nặng nề, thô nhám để đối lập với cái nhẹ nhàng duyên dáng của kiến trúc truyền thống, lấy cái đồ sộ với các nhịp khổng lồ mạnh mẽ để đối lập với cái thanh mánh, tinh tế, lấy cái căng thẳng và động đối lập với vẻ yên tĩnh thanh bình v.v… cơ sở khoa học của nguyên lí này là xã hội Nhật Bản ngày nay (thời kỳ những năm 60 – 70 thế kỷ trước) đã khác xa xã hội Nhật Bản ngày xua, con người Nhật Bản ngày nay cũng không còn tĩnh lặng như xưa mà rất năng động. Cao hơn nữa ông muốn sáng tạo ra nguồn gốc của truyền thống mới, giáo dục và thay đổi thị hiếu của dân tộc và tạo ra những tiêu chuẩn mới của tính dân tộc. Những tác phẩm của Kenzo Tange như toà thị chính quận Kurashiki Okayama (1960), nhà thờ Đức Bà ở Tokyo (1964), quần thể các công trình Olympic Yoyogi ở Tokyo (1964), trung tâm báo chí Yamanashi ở Kofu (1967) v.v… đã chứng minh lí thuyết của ông: chúng rất độc đáo, khác xa kiến trúc truyền thống Nhật Bản xưa kia, nhưng chúng lại rất Nhật Bản, một kiến trúc Nhật Bản hiện đại của đất nước và con người Nhật Bản ngày nay. Một trãm nãm nữa hay vài thế kỉ sau này con cháu chúng ta xem lại kiến trúc của chúng ta ngày nay (thế kỷ XX, XXI), chúng sẽ nghĩ gì?

Related posts